Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2011
Nguyên lí Tảng băng trôi trong tác phẩm “Ông già và biển cả”.
Hêminhuây đã sử dụng một hình ảnh nổi tiếng để nói về phương pháp viết của ông , đó là phương pháp “tảng băng trôi” : 7/8 chìm dưới nước, chỉ 1 phần nổi lên trên cho mọi người nhìn thấy. Hình ảnh ấy chẳng những minh họa cho phong cách Hêminhuây mà nó còn đưa ra một cách tóm tắt yêu cầu đối với một áng văn chương thật sự có giá trị, đặc biệt đối với độc giả của thế kỉ XX. Truyện đòi hỏi một sự đồng sáng tạo tích cực của người đọc. Mỗi người đọc theo các cấp độ khác nhau sẽ khám phá được những tảng ngầm của “tảng băng trôi” – tác phẩm văn chương. Hình ảnh này của Hêminhuây thật ra đã được một thuật ngữ lí luận gợi lên : đó là mạch ngầm văn bản.
Dưới vẻ trần trụi , thô sơ, rõ ràng bên ngoài, tác phẩm của ông ẩn giấu những tầng sâu kín, đa nghĩa và đầy chất thơ. Thoạt nhìn , ngôn từ ở đây thường rất ngắn gọn và đơn giản , điều này đặc biệt thể hiện qua 1 loại ngôn từ mà người ta coi là sở trường của ông, ngôn ngữ đối thoại. Người ta ví lối văn chương đối thoại của Hêminhuây với những băng ghi âm hoặc nói đến lối văn điện tín. Đối thoại rời rạc, khó hiểu ấy không đơn giản chỉ hứng thú của nhà văn, mà thường gắn bó với kiểu nhân vật Hêminhuây: họ không trần tình, bộc lộ tâm tư mà thường khi lại giấu kín nó. Muốn hiểu hết đối thoại của nhân vật Hêminhuây, nhiều khi phải đọc cả những im lặng và nhập hẳn vào văn cảnh của họ nữa. Huống chi nhà văn thường ẩn mình, không giải thích , bình luận nhiều về nhân vật, nên có những câu đối thoại gần như hoàn toàn thuộc về phần chìm của “tảng băng trôi”
☻Phần nổi của “tảng băng trôi” trong “Ông già và biển cả”
+ Đó là những gì nhìn thấy được: Văn bản ngắn gọn, đơn giản. Qua lượng ngôn từ hạn hẹp chuyển tải những lớp nghĩa hết sức sâu xa. Nhà văn Macket nhận xét : “Những gì Hêminhuây viết trong khoảng 100 trang sách đó những nhà văn khác có thể biến thành 1 cuốn tiểu thuyết dày hàng nghìn trang”.
Nhân vật số lượng cũng không nhiều, cũng là tác phẩm đơn giản về hoạt động câu cá cũng là sự giản lược về cốt truyện.
Tác phẩm có khoảng 100 trang (khoảng 27000 từ).
☻Phần chìm của “tảng băng trôi” trong “Ông già và biển cả”.
Các tầng ý nghĩa khai thác được. Theo Lê Huy Bắc có 3 cách hiểu về “Ông già và biển cả”:
- Đọc tác phẩm theo triết lí về cái bi đát của các nhà văn hiện sinh. Tác giả dường như muốn khẳng định cuộc đời của con người là một cuộc hành trình mệt nhọc và chẳng bao giờ tới đích nên ông lão dù có câu được con cá kiếm, chiến thắng nó cũng chẳng mang được nó vào bờ.
Khi ông lão mang bộ xương vào bờ, người thấy được giá trị của nó là cậu bé cái mà người hướng dẫn viên du lịch không hiểu được=> Cái có giá trị với người này lại trở nên vô giá với người khác. “Không phải tôi không muốn bi kịch hóa cuộc đời nhưng mỗi lần ta yên tâm về một việc gì đấy thì đó là dấu hiệu của 1 dấu hiệu của 1 sự thảm bại”.
- Theo cái nhìn tiến bộ của các nhà phê bình Mácxit: “Đây là cuộc chiến của con người chống lại số phận” . Khi con người nỗ lực phấn đấu thì sẽ không bị khuất phục.
Gs. Phùng Văn Tửu nhận xét “Tác phẩm miêu tả cuộc vật lộn gay gắt của con người vs thiên nhiên đầy chân thực từ đó nâng lên thành tầng ý nghĩa thứ 2: nêu bật cái quyết liệt, tàn bạo của đời sống và khả năng chống trả của con người”
Đặng Anh Đào nhận định “Santiago giống như bức tượng về cuộc đấu tranh của con người hiện đại trên thế giới này”
Phong Lê lại đánh giá “Ông già và biển cả” ở góc độ tố cáo hiện thực xã hội, xem ông lão như 1 người lao động cực nhọc, vất vả. Con cá kiếm là thành quả lao động nhưng lại bị bọn cá mập cướp đi (bọn cá mập đồng nghĩa vs bọn tư sản bóc lột người lao động) : “Ta có thể thấy đâu đó thấp thoáng bóng dáng 1 xã hội loài người đầy rấy những bất công trong loài người với nhau. Trong xã hội ông già đang sống, đất liền kia cũng có bao nhiêu đàn cá mập hung hãn và tham lam không kém. Nó đang ngồi dưng ăn bám, cướp không bao nhiêu của cải, mồ hôi nước mắt của người dân lao động.
- Đọc tác phẩm từ góc độ mĩ học.
Theo Lê Huy Bắc: Ông lão là nhân vật đẹp (đẹp ở cả ý chí và khát vọng) => Bi kịch của cái đẹp: Sự nỗ lực đó không đem lại kết quả gì cả, con cá kiếm rõ ràng là 1 đối thủ đẹp của ông lão cuối cùng cũng bị chính ông lão tiêu diệt và trở thành chiến tích thảm thương vì không ai hiểu giá trị của nó.
Hành động đuổi theo con cá là hành động thể hiện khát vọng của con người vươn đến cái đẹp, cái lớn lao hơn mặc cho kết quả lại là 1 bi kịch. “Cái tốt đẹp chẳng bao giờ bền lâu”
- So sánh công việc câu cá với nghề viết văn ta cũng thấy được sự tương đồng giữa chúng:
Câu cá cần sức lực, viết văn cần công lao. Mục đích hướng đến 1 bên là câu được cá, kiếm được tiền còn bên kia là phấn đấu hoàn thành tác phẩm tuyệt vời. Lão đánh cá kì vọng vào 1 con cá lớn, còn nhà văn chờ đợi 1 tác phẩm hay , có giá trị. Đôi khi kết quả mang về lại là một bộ xương khô hay 1 tác phẩm không như ý muốn. Bộ xương cá cũng có người hiểu được (cậu bé Mandoli ) cũng có người không (người hướng dẫn du lịch) và công việc viết văn cũng vậy: số người hiểu được đón nhận tác phẩm đôi khi không nhiều bằng số người không hiểu, thờ ơ.
- Những yếu tố hỗ trợ cho nguyên lí “tảng băng trôi”
+ Độc thoại: Tác giả nhường lời cho nhân vật để khắc họa hình tượng nhân vật ngoài biển khơi, thủ pháp nhường lời cho nhân vật. Khi lời độc thoại lấn át lời kể có nghĩa là tác giả để nhân vật tự lên tiếng, tự bộc lộ. “Lão tự nhủ, lão nghĩ, lão cho rằng…..” người kể chuyện tỏ ra lạnh lùng, khách quan, không lồng vào đó dòng suy nghĩ nào mà đánh giá, nhận xét chuyển sang phía người đọc.
+ “ Cái đẹp thì chẳng bao giờ tồn tại được lâu”
Nghĩa đen: con cá quá lớn không thể mang lên thuyền và rồi bọn cá mập cũng xơi mất.
Nghĩa bóng : Khi ôm ấp khát vọng quá lớn thì khó có thể thực hiện được.
+ Đối thoại: Trong tác phẩm lời đối thoại rất ít.
+ Hình tượng nhân vật: 2 nhân vật chính trái ngược nhau
Ông lão: vừa là người chiến thắng, vừa là kẻ thua cuộc.
Cậu bé Mandoli: gắn với quá khứ đẹp đẽ của ông lão, gợi nhớ về thời trai trẻ của ông lão mạnh mẽ, sôi nối => là sự tiếp nối của ông lão .
+ Tính biểu tượng:
♣ Ông lão Santiago: ( Sant – ông thánh -> gợi liên tưởng đến chúa Giesu :tay chân trầy xước, rướm máu, lúc thuyền lên bờ ông lão tháo cột buồm nặng nhọc vác trên vai giống biểu tượng chúa trên thánh giá): Ông lão là biểu tượng của con người phi thường chống lại định mệnh.
♣ Con cá kiếm : tượng trưng cho những khó khăn , thử thách của con người, của tự nhiên; Nó là thành quả lao động của con người, là khát vọng lí tưởng của con người, đồng thời là biểu tượng của cái đẹp.
♣ Đàn cá mập: tượng trưng cho những khó khăn, thử thách ngáng trở con đường vươn đến lí tưởng của con người. Nó là biểu tượng của cái xấu, cái tồi tệ, cái đáng lên án. Bọn tư sản chỉ biết cướp bóc không thành quả lao động của người lao động nghèo.
♣ Biển: Một môi trường đầy khó khăn, thử thách. Biển là mẹ thiên nhiên kì vĩ, chứa đựng những khát vọng lớn lao của con người.
(theo Diendankienthuc.net)
Thứ Năm, 17 tháng 3, 2011
Quy chế Tuyển sinh Đại học, Cao đẳng năm 2011 (hệ chính quy)
Phần đầu tài liệu này cũng hướng dẫn cho thí sinh tìm kiếm thông tin hữu ích một cách nhanh gọn, chính xác và tiết kiệm tiền, tiết kiệm thời gian không phải đọc hết tất cả.
Khi mở tài liệu, thí sinh có thể tìm các thông tin liên quan trực tiếp đến mình bằng cách tìm kiếm (ấn Ctrl F) với từ khóa “thí sinh”. Từ khóa “thí sinh” đã có màu xanh và in đậm để thí sinh dễ nhận biết đâu là chỗ liên quan đến mình.
Tải file word (59 trang)
Download Quy che Tuyen sinh Dai hoc, Cao dang (DH, CD) 2011
Các tháng trong năm, các ngày trong tuần: Nguồn gốc tên gọi & các ý nghĩa
January: Bắt nguồn từ tiếng Latin Ianuaris, từ này bắt nguồn từ chữ ianua (nghĩa là “door”), và có liên hệ với vị thần hai đầu Janus, một vị thần bảo hộ chuyên đứng giữ cửa. Theo nhiều học giả thì Janus là vị thần của sự khởi thuỷ, là vị thần đầu tiên trong số các vị thần xuất hiện ở các nghi thức tế lễ. Do vậy mà mọi sự bắt đầu của ngày, tháng, và năm đều được liên hệ với ông ta. Tháng đầu tiên trong năm, January, theo đó mà được đặt theo tên ông ta, với ngụ ý rằng đó là thời điểm mà ông ta với hai cái đầu có thể nhìn về năm cũ cũng như hướng đến năm mới.
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp janvier, Tây-ban-nha enero, Bồ-đào-nha Janeiro, Ý gennaio, Đức Januar (ở Đức và Thuỵ-sĩ) hoặc Janner (ở Áo), Wales Ionawr, tiếng Scots Gaelic an Faoilteach, Ireland Eanáir.
February: Xuất phát từ chữ Latin Februarius, với gốc là từ februa (nghĩa là “means of cleansing”, các hình thức tẩy uế). Tháng này được đặt tên với ý nghĩa là “tháng của sự tẩy uế”, với lễ hội được tổ chức vào ngày 15 để tôn vinh nữ thần Juno với nhân dạng là nữ thần tình ái.
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp février, Tây-ban-nha febrero, Bồ-đào-nha Fevereiro, Ý febbraio, Đức Februar, Wales Chwefror, tiếng Scots Gaelic an Gearran, Ireland Feabbra.
March: Từ chữ Latin Maritius, đặt theo tên của thần Mars, vị thần chiến tranh và cũng là thần nông nghiệp. Tháng này có nhiều lễ hội nhằm để tôn vinh ông ta.
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp mars, Tây-ban-nha marzo, Bồ-đào-nha Março, Ý marzo, Đức März, Wales Mawrth, tiếng Scots Gaelic am Màrt, Ireland Márta.
April: Chữ Latin là Aprilis, và người ta cho rằng nó xuất phát từ chữ Apru, là tiếng Etruscan (một chủng người cổ đại sống tại vùng đất là nước Ý ngày nay), đuợc mượn từ Aphro, dạng viết tắt của Aphrodite, nữ thần Hi-lạp. Do vậy, theo dân La-mã, thì Aprilisđuợc xem như là “tháng của nữ thần Venus” Ngoài ra nó còn có một ngữ nguyên khác liên hệ với chữ aperir (nghĩa là “to open”) theo như việc các nụ và bông hoa nở ra vào thời điểm này trong năm tại thành Rome.
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp avril, Tây-ban-nha abril, Bồ-đào-nha Abril, Ý aprile, Đức April, Wales Ebrill, Scots Gaelic an Giblean, Ireland Alibreán.
May: Từ chữ Latin Maius, đặt theo tên Maia, nữ thần sinh trưởng của La-mã, vợ của thần lửa Vulcan (tên Maia này có thể cùng một nguồn với chữ Latin magnus, nghĩa là “large”).
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp mai, Tây-ban-nha mayo, Bồ-đào-nha Maio, Ý maggio, Đức Mai, Wales Mai, Scots Gaelic an Cètiean, Ireland Bealtaine.
June: tên Latin Iunius của tháng này được bắt nguồn từ tên vị nữ thần Juno của La-mã. Tên của tháng này theo tiếng Scots Gaelic có nghĩa là “tháng non trẻ” (the young month), nhưng một cái tên khác được ghi nhận là Meadhan-Samhraidh “midsummer” (giữa hè); tên tháng này trong tiếng xứ Wales cũng mang nghĩa tương tự, và tên tháng trong tiếng Ireland thì có nghĩa là “ở giữa” (middle)
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp juin, Tây-ban-nha junio, Bồ-đào-nha Junho, Ý giugno, Đức Juni, Wales Mehefin, Scots Gaelic an t-Òg-mhìos, Ireland Meitheamh.
July: Cho đến năm 44 trước Công nguyên thì tháng này được gọi là Quintilis (bắt nguồn từ quintus, nghĩa là “thứ năm - fifth”); sau đó được đổi tên lại để tôn vinh Julius Caesar, người được sinh ra vào ngày 12. Tên tháng này trong tiếng Scots Gaelic ban đầu ý chỉ thòi điểm ấm áp nhất của năm.
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp juillet, Tây-ban-nha julio, Bồ-đào-nha Julho, Ý luglio, Đức Juni, Wales Gorffennaf, Scots Gaelic an t-Iucbar, Ireland Iúil.
August: Cho đến năm 8 trước Công nguyên thì tháng này có tên là Sextilis (từ chữ sextus, “sixth”); sau đó đổi tên lại theo tên của hoàng đế Augustus. Trong tiếng Scots Gaelic và Ireland, tên tháng này dùng để tưởng nhớ các hoạt động thu hoạch vụ mùa tưởng nhớ đến Lugh, vị thần ánh sáng của người Celtic cổ đại (tương đương với thần Mercury bên La-mã và thần Hermes bên Hi-lạp).
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp août, Tây-ban-nha agosto, Bồ-đào-nha Agosto, Ý agosto, Đức August, Wales Awst, Scots Gaelic an Lùnasdal, Ireland Lughnasadh.
September: Tên Latin của tháng này September chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ bảy trong năm (xuất phát từ chữ septem, “số bảy”). Tên trong tiếng Wales là một từ với nghĩa “mùa gặt”; trong tiếng Scots Gaelic thì mang ý nghĩa sự dư dả và hân hoan trong mùa thu hoạch; còn trong tiếng Ireland nghĩa là “giữa thu” (mid-autumn).
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp septembre, Tây-ban-nha septembre, Bồ-đào-nha Setembro, Ý settembre, Đức September, Wales Medi, Scots Gaelic an t-Sultuine, Ireland Meán Fómhair.
October: Tên Latin của tháng này October chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ tám trong năm (xuất phát từ chữ octo, “số tám”). Tên tháng trong tiếng Wales, ban đầu là hyddfref, nghĩa là tiếng bò rống; trong tiếng Scots Gaelic thì nghĩa là “thời kì động đực” (rutting time), bắt nguồn từ chữ damh, nghĩa là “con bò”; trong tiếng Ireland thì có nghĩa là “cuối thu” (end of autumn).
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp octobre, Tây-ban-nha octubre, Bồ-đào-nha Outubro, Ý ottobre, Đức Oktober, Wales Hydref, Scots Gaelic an Damhar, Ireland Deireadh Fómhair.
November: Tên Latin của tháng này November chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ chín trong năm (xuất phát từ chữ novem, “số chín”). Trong tiếng Wales thì tên tháng này mang nghĩa là “sát sinh” (slaughter); tương tự vậy, người Hà-lan dùng nghĩa đó để gọi tháng này slachtmaand, bởi vì người ta giết thú vật trong tháng này, và trong Old English còn bảo lưu một từ biến thể của người ngoại đạo blomonap, nghĩa là “tháng hiến tế” (sacrifice month). Một từ khác trong tiếng Wales là y mis du, “tháng tối tăm” (black month), từ này được ghi nhận trong tiếng Scots Gaelic (am mìos dubh).
Ngày đầu tiên của tháng này là một sự kết thúc cho vụ mùa, là cái ngày mà các bầy thú trở về từ các đồng cỏ và sự chiếm hữu đất đai được gia hạn. Nó cũng là thời điểm mà người ta tin rằng linh hồn của những người đã khuất sẽ trở về thăm viếng gia đình. Người ta đốt lửa mừng trên đỉnh đồi để thắp lên lại ngọn lửa ấm áp gia đình cho mùa đông và để xua đuổi những linh hồn xấu xa, và thỉnh thoảng họ mang mặt nạ và hoá trang để những hồn ma không thể nhận ra họ. Đó chính là lễ hội Samhain của người Celts, và cũng là nguồn gốc của lễ Halloween hiện nay, vốn được tổ chức vào đêm 31/10. [1]
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp novembre, Tây-ban-nha noviembre, Bồ-đào-nha Novembro, Ý novembre, Đức November, Wales Tachwedd, Scots Gaelic an t-Samhainn, Ireland Samhain.
December: Tên Latin của tháng này December chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ mười trong năm (xuất phát từ chữ decem, “số mười”). Tên tháng trong tiếng Wales nghĩa là “trước ngày ngắn nhất” (before the shortest day), theo tiếng Scots Gaelic nghĩa là “bóng đêm” (darkness), theo tiếng Ireland nghĩa là “tháng của Giáng-sinh” (Christmas month).
Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp décembre, Tây-ban-nha diciembre, Bồ-đào-nha Dezembro, Ý dicembre, Đức Dezember, Wales Rhagfyr, Scots Gaelic an Dùdlachd, Ireland Mí na Nollag.
Năm là đơn vị chỉ thời gian, và hơn nữa nó còn mang tính biểu tượng. Năm là một kiểu hình cho mọi quá trình có chu kì (như một đời người, sự trỗi dậy và suy tàn của nền văn hoá, chu kì vũ trụ). Biểu tượng hình tròn của năm thường được nằm gói gọn trong một hình vuông với bốn góc là bốn nhân vật tượng trưng cho bốn mùa trong năm. Tấm thảm thêu về Sự sáng tạo trong nhà thờ Gerona là một ví dụ hoàn hảo cho hình ảnh đó. Trong truyền thống Trung-hoa thì vòng tròn biểu tượng của năm được chia thành hai phần bằng nhau, tương ứng với bóng tối/cái chết và ánh sáng/sự sống. Từ thời xa xưa thì người ta tin rằng mỗi người đều phải trải qua một quá trình tái sinh hàng năm, từ tháng Mười hai cho đến tháng Sáu, biểu tượng cho cái chết và sự phục sinh. [2]
Tấm thảm thêu về Sự sáng tạo (tapestry of Creation) của nhà thờ Gerona.
Các ngày trong tuần
Mẫu hình của tuần lễ có liên quan đến mẫu hình của bảy hướng không gian: với hai ngày liên hệ với một chiều không số ba chiều không gian, trong khi phần trung tâm, là hình ảnh của khái niệm “tĩnh động thể” (unmoved mover) của Aristotle, thì tương ứng với ngày nghỉ trong số bảy ngày. [3]
Một tuần bảy ngày là đơn vị thời gian được người ta tạo ra không căn cứ trên khía cạnh thiên văn. Nguồn gốc của đơn vị tuần lễ này được liên hệ với người Do-thái cổ đại và ghi chép kinh thánh về Sự sáng tạo, theo đó thì Chúa làm việc trong sáu ngày và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Tuần lễ của người Do-thái xoay quanh ngày Sabbath, là ngày thần thánh và là ngày nghỉ của người Do-thái, bắt đầu từ buổi hoàng hôn Thứ sáu cho đến buổi đêm về vào ngày kế tiếp (tức là ngày Thứ bảy). Tuy nhiên giới nghiên cứu đã chứng minh được rằng người Do-thái có lẽ đã mượn ý tưởng về tuần lễ này từ những người ở vùng Lưỡng-hà, vì người Sumer và người Babylon chia một năm thành những tuần bảy ngày. Và từ người Babylon đến người Ai-cập, rồi người La-mã đặt tên mỗi ngày trong tuần theo tên của những hành tinh theo một chuỗi bảy hành tinh quan sát được bằng mắt thường: Mặt trăng (Moon), sao Thuỷ (Mercury), sao Kim (Venus), Mặt trời (Sun), sao Hoả (Mars), sao Mộc (Jupiter), và sao Thổ (Saturn).
Trong các ngôn ngữ trên, thì tên các ngày trong tuần theo tiếng của xứ Wales khá giống tiếng Latin hơn cả, vì tiếng Wales là ngôn ngữ còn sót lại của thời Roman Britain (nước Anh của La-mã), do vậy còn giữ được tên của các hành tinh sát với gốc Latin còn hơn cả những ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Romance (ngữ hệ bắt nguồn từ Latin) như Pháp, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, v.v.
Theo tiếng Latin thì ngày đầu tiên được đặt theo tên ngày Mặt trời (Sun) (dies Solis), ngày thứ nhì là cho ngày Mặt trăng (Moon) (dis Lunae), ngày thứ ba là ngày sao Hoả (Mars) (dies Martis), ngày thứ tư là ngày sao Thuỷ (Mercury) (Mercurii), ngày thứ năm là ngày sao Mộc (Jupiter) (dies Iovis), ngày thứ sáu là ngày sao Kim (Venus) (dies Veneris), và ngày thứ bảy là ngày sao Thổ (Saturn) (dies Saturni). Tên các hành tinh ở thời La-mã là bản phiên dịch từ tiếng Hi-lạp, và Hi-lạp là từ tiếng Babylon, Babylon thì từ Sumer:
Bảng 2 – Tên các hành tinh [4]
Có một điều thú vị trong tên các ngày bằng tiếng Latin là bảy hành tinh được xếp theo chuỗi tăng dần bắt đầu từ ngày Monday và tăng tiến lên theo từng khoảng hai ngày trong vòng hai tuần: Monday (Moon), Wednesday (Mercury), Friday (Venus), Sunday (Sun), Tuesday (Mars), Thursday (Jupiter), Saturday (Saturn). Để hiểu nguyên do vì sao thì ta quay ngược thời gian trở về Ai-cập thời Plotemy, lúc này các nhà chiêm tinh định ra rằng mỗi giờ sẽ ứng với một hành tinh theo thứ tự giảm dần về mặt khoảng cách đối với Trái đất, lần lượt là Saturn, Jupiter, Mars, Sun, Venus, Mercury, Moon, và mỗi ngày thì ứng với hành tinh đại diện cho giờ đầu tiên của ngày đó; bởi vì một ngày bao gồm 3x7+3 giờ, bắt đầu là Saturn, nên ngày đầu tuần vào thời đó được tính là ngày Saturday, do đó sang ngày hôm sau thì giờ đầu tiên rơi vào Sun, thành Sunday, ngày hôm sau nữa rơi vào Moon, thành Monday, v.v..
Mặc dù sau này, Thiên chúa giáo lấy khái niệm tuần lễ của người Do-thái và đổi ngày Sunday lại thành “ngày của Chúa” (Lord’s day – dies Dominicus), nhưng vào vị hoàng đế đầu tiên của đế chế La-mã Công giáo, Constantine, vào năm 321 đã ban sắc lệnh rằng vào ngày Sunday thì không kiện tụng gì cả, ông ta không gọi ngày đó là “ngày của Chúa” mà gọi là “ngày mà mặt trời được tôn thờ” (diem solis ueneratione sui celebrem).
Trong số các ngôn ngữ của Tây Âu, thì ngoại trừ tiếng Bồ-đào-nha tiếp thu hoàn toàn cách đặt tên của Thiên chúa giáo. Còn lại các ngôn ngữ khác thuộc ngữ hệ Romance chỉ giữ lại cách đặt tên của “ngày của Chúa” (Pháp, dimanche / Tây-ban-nha, domingo / Ý, domenica) và ngày “Sabbath” (samedi / sábado / sabato), những ngày còn lại trong tuần vẫn giữ cách đặt tên theo các hành tinh.
Trong các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Germanic (tiếng Đức cổ), thì có một số thay đổi so với tiếng Latin. Như tiếng Anh, các ngày Sunday, Monday, Saturday vẫn được đặt theo tên các hành tinh, còn những ngày khác thì đặt theo tên các vị thần của dân tộc Germanic cổ:
· Tuesday được đặt tên theo thần Týr (Old English viết là Tiw hay Tiu), vị thần chiến tranh và bầu trời (tương ứng với thần Mars bên La-mã), ngày này trong tiếng Thuỵ-điển hay Đan-mạch lần lượt là tisdag và tirsdag, còn tiếng Đức là Dienstag.
· Wednesday đặt theo tên của thần Woden (còn có một tên thông dụng khác là Odin), tương ứng với thần Mercury bên La-mã, và cách đặt tên này qua bên tiếng Hà-lan là woensdag, tiếng Thuỵ-điển và Đan-mạch onsdag. Tuy nhiên trong tiếng Đức thì có sự thay đổi nữa, là ngày này người Đức gọi là Mittwoch (tức là midweek, giữa tuần)
· Thursday đặt tên theo thần Thor, thần sấm sét, cũng từ tên vị thần này mà có từ tiếng Anh thunder.
· Friday đặt theo tên thần Frigg, trong thần thoại Scandinavia thì Frigg là vợ của Odin và là nữ thần của hôn nhân và sự sinh sản, tương ứng với thần Venus bên La-mã.
Người Slav (những dân tộc thuộc khu vực trung và đông của châu Âu) thì áp dụng một hệ thống đặt tên khác. Ngày Sunday được họ gọi là nedelja, ngày “không-làm-việc” (not-work). Tuy nhiên từ đó lại có nghĩa là “week” trong tiếng Nga, và người Nga thì gọi ngày Sunday là voskresene, “sự phục sinh” (một dạng từ khác của từ Voskresenie, nghĩa là “ngày Phục sinh” (Easter)), ngày Monday được gọi là ponedel’nik, nghĩa là “ngày sau nedelja”. Ngày Saturday trở thành “Sabbath”, ngày Wednesday mang nghĩa là “giữa tuần”, còn những ngày Tuesday, Thursday, và Friday thì mang tên bắt nguồn lần lượt từ nghĩa “hai”, “bốn”, và “năm”, vì họ đếm bắt đầu từ ngày Monday chứ không phải từ ngày Sunday. Người Lithuania và Latvia cũng bắt đầu đếm các ngày trong tuần từ ngày Monday.
Còn trong tiếng Việt, thì các ngày trong tuần từ Monday đến Saturday được gọi lần lượt là Thứ hai, Thứ ba, cho đến Thứ bảy, còn ngày Sunday có hai cách gọi “chúa nhật” hoặc “chủ nhật”, tức “Lord’s day”. Nếu ta so với bảng 1, thì thấy cách gọi này về mặt ý nghĩa giống hệt như cách gọi trong tiếng Latin của nhà thờ Thiên chúa giáo (Church Latin), và trong ngôn ngữ hiện đại ngày nay thì giống với cách gọi của tiếng Bồ-đào-nha: từ feria ở đây theo tiếng Latin ban đầu có nghĩa là “free days” (những ngày rảnh rỗi), nhưng sau đó chuyển thành nghĩa “feast days” (những ngày lễ hội), và rồi vì một lí do nào đó mà từ feria này được dùng để chỉ các ngày trong tuần. Nhắc lại lịch sử thì vào đầu thế kỉ 17, các nhà truyền giáo Bồ-đào-nha sang Việt-nam, và những người này đã có vai trò cực kì quan trọng trong việc hình thành chữ Quốc ngữ hiện nay, do đó việc tên gọi các ngày trong tuần có ý nghĩa trùng khớp với bên tiếng Bồ-đào-nha là điều hoàn toàn hợp lí và có cơ sở về mặt lịch sử.
Các ngày trong tuần có liên hệ với các hành tinh, và các hành tinh thì lại có liên hệ với các kim loại trong thuật luyện đan (alchemy). Hình dưới đây sẽ tóm gọn lại những sự liên hệ đó:
Tên các hành tinh có chữ màu xanh, phía dưới là tên kim loại tương ứng, dưới nữa là tên của ngày trong tuần bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, lần lượt là: tiếng Latin cổ, Wales, Pháp, Tây-ban-nha, Ý, Anh, Đức (nếu ngày đó được thể hiện bằng tám ngôn ngữ thì tiếng thứ nhì, sau tiếng Latin cổ, là tiếng Latin của Thiên chúa giáo).
Chú thích:
[1] “Halloween.” Encyclopædia Britannica. Encyclopaedia Britannica Ultimate Reference Suite. Chicago: Encyclopædia Britannica, 2010.
[2] Cirlot, J. E. “Year.” A Dictionary of Symbols. 2nd ed. London: Routledge, 1971.
[3] Cirlot, J. E. “Week.” A Dictionary of Symbols. 2nd ed. London: Routledge, 1971.
[4] Coi thêm tên các hành tinh theo nhiều ngôn ngữ khác nhau: Planetary Linguistics
Tài liệu tham khảo:
- Encyclopædia Britannica. Encyclopaedia Britannica Ultimate Reference Suite. Chicago: Encyclopædia Britannica, 2010.
- Ayto, John. Word Origins. 2nd edition. London: A & C Black, 2005.
- Blackburn, Bonnie & Leofranc Holford-Strevens. The Oxford Companion to the Year. New York: Oxford University Press, 1999.
- Cirlot, J. E. A Dictionary of Symbols. 2nd ed. London: Routledge, 1971.
- Holford-Strevens, Leofranc. The History of Time: A Very Short Introduction. New York: Oxford University Press, 2005.
- Pringle, Greg. “Days of the Week in Chinese, Japanese, & Vietnamese.” Bathrobe’s cjvlang.
- Ross, Kelly L. “The Days of the Week.” The Proceedings of Friesian School, the Fourth Series. 2005.
Đáp án đề thi CASIO toàn quốc 2011 môn Toán, Lý, Hóa, Sinh
Tải về :
Dap an de thi giai toan li hoa bang Casio 2011
Bài học sự nghiệp từ những câu danh ngôn nổi tiếng
Hãy thử xem những triết lý về sự nghiệp, về cách làm việc và tư duy của một số nhà lãnh đạo và khoa học hàng đầu trên thế giới giúp ích cho sự phát triển sự nghiệp của bạn ra sao:
Colin Powell: “ Không có bí mật nào tạo nên thành công. Đó chỉ là kết quả của sự chuẩn bị, làm việc hết sức mình và rút ra kinh nghiệm từ sự thất bại”.
Bài học sự nghiệp: Tạo dựng một sự nghiệp thành công không bao giờ là việc dễ dàng. Hầu hết những người thành công đều không có bí quyết đặc biệt nào cả. Tất cả đều được thực hiện theo cách truyền thống: luôn phấn đấu hết sức mình.
Thomas Edison: “ Không phải là tôi đã thất bại, chẳng qua chỉ là tôi đã thực hiện hàng nghìn cách chưa có hiệu quả”.
Bài học sự nghiệp: Không có người nào luôn luôn làm đúng và hoàn hảo. Và dù bạn có thất bại, điều quan trọng là biết cách đứng lên sau thất bại. Các công ty thường quan tâm đặc biệt tới những nhân viên biết vượt qua khó khăn thay vì bỏ cuộc.
Albert Einstein: “Logic sẽ đưa bạn từ điểm A tới điểm Z còn trí tưởng tượng sẽ đưa bạn tất bất kì đâu”.
Bài học sự nghiệp: Ngày nay, biết nghĩ vươn ra khỏi những ranh giới hạn hẹp là một kĩ năng giá trị. Các công ty không đơn giản muốn tìm kiếm những nhân viên “ nhân bản vô tính”, do đó biết cách làm mình khác biệt và nổi bật trong đám đông sẽ giúp bạn thành công.
Ralph Waldo Emerson: “ Hãy kết thúc mỗi ngày bằng cách hoàn thành những gì cần phải hoàn thành; sẽ có những điều đáng tiếc xảy ra nhưng hãy nhanh chóng quên chúng đi. Ngày mai là một ngày mới, bạn sẽ bắt đầu nó một cách tươi sáng với tinh thần tập trung cao và không để chuyện quá khứ gây trở ngại”.
Bài học sự nghiệp: Trong công việc, thật hiếm có một ngày hoàn hảo. Đắm chìm vào những sai lầm trong quá khứ hoặc thể hiện thái độ tiêu cực sẽ cản trở bạn tiến bộ và thành công. Hãy nhớ rằng ngay cả sếp của bạn cũng từng mắc lỗi trong quá khứ nhưng họ đã vượt qua và thăng tiến thành công.
Khổng Tử: “ Hãy chọn công việc bạn yêu thích và như vậy bạn sẽ không phải làm việc một ngày nào trong cuộc đời mình”.
Bài học sự nghiệp: Chức vị cao hay lương bổng hậu hĩnh không phải là những yếu tố duy nhất khiến bạn quyết định chấp nhận công việc. Chọn lựa nghề nghiệp mình có hứng thú và đam mê sẽ giúp bạn tận hưởng công việc hàng ngày một cách hạnh phúc.
Mark Twain: “ Hãy tránh xa những người coi thường tham vọng của bạn. Người nhỏ nhen sẽ làm như vậy còn những người vĩ đại sẽ khiến bạn cảm thấy mình cũng có thể trở thành người vĩ đại”.
Bài học sự nghiệp: Hãy tìm cho mình một người cố vấn tốt và tránh xa những người không tin tưởng bạn như sếp hay bắt nạt hay đồng nghiệp đố kị. Đó là những điều bạn phải làm khi bắt đầu sự nghiệp.
Theodore Roosevelt: “ Danh tiếng thuộc về những người thực sự tham gia trận chiến với khuôn mặt thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt; những người chiến đấu quả cảm; những người mắc lỗi và đứng dậy; những người có lòng nhiệt huyết tràn trề và cống hiến hết mình; những người biết vinh quang nếu chiến thắng và nếu thất bại, gục ngã khi dám đương đầu với thách thức, họ sẽ không bao giờ ở cùng những linh hồn lạnh lẽo của những người không biết mùi chiến thắng hay thất bại.”
Bài học sự nghiệp: Hãy đem tất cả những gì bạn có để vận dụng trong sự nghiệp của mình. Có lúc bạn thất bại và có lúc bạn thành công ngoài sức tưởng tượng của mình. Hãy đương đầu thách thức, chấp nhận thiệt thòi, học hỏi từ sai lầm của mình và tiến lên.
Leonardo DaVinci: “Ngay từ bây giờ và sau này, hãy nghỉ ngơi và thư giãn. Làm việc liên tục có thể ảnh hưởng xấu tới phán đoán của bạn.”
Bài học sự nghiệp: Đôi khi, nghỉ ngơi cũng quan trọng như làm việc chăm chỉ. Bị quá sức sẽ làm giảm năng suất cũng như hiệu quả công việc của bạn.
Theo CB
Bài học sự nghiệp từ những câu danh ngôn nổi tiếng
Hãy thử xem những triết lý về sự nghiệp, về cách làm việc và tư duy của một số nhà lãnh đạo và khoa học hàng đầu trên thế giới giúp ích cho sự phát triển sự nghiệp của bạn ra sao:
Colin Powell: “ Không có bí mật nào tạo nên thành công. Đó chỉ là kết quả của sự chuẩn bị, làm việc hết sức mình và rút ra kinh nghiệm từ sự thất bại”.
Bài học sự nghiệp: Tạo dựng một sự nghiệp thành công không bao giờ là việc dễ dàng. Hầu hết những người thành công đều không có bí quyết đặc biệt nào cả. Tất cả đều được thực hiện theo cách truyền thống: luôn phấn đấu hết sức mình.
Thomas Edison: “ Không phải là tôi đã thất bại, chẳng qua chỉ là tôi đã thực hiện hàng nghìn cách chưa có hiệu quả”.
Bài học sự nghiệp: Không có người nào luôn luôn làm đúng và hoàn hảo. Và dù bạn có thất bại, điều quan trọng là biết cách đứng lên sau thất bại. Các công ty thường quan tâm đặc biệt tới những nhân viên biết vượt qua khó khăn thay vì bỏ cuộc.
Albert Einstein: “Logic sẽ đưa bạn từ điểm A tới điểm Z còn trí tưởng tượng sẽ đưa bạn tất bất kì đâu”.
Bài học sự nghiệp: Ngày nay, biết nghĩ vươn ra khỏi những ranh giới hạn hẹp là một kĩ năng giá trị. Các công ty không đơn giản muốn tìm kiếm những nhân viên “ nhân bản vô tính”, do đó biết cách làm mình khác biệt và nổi bật trong đám đông sẽ giúp bạn thành công.
Ralph Waldo Emerson: “ Hãy kết thúc mỗi ngày bằng cách hoàn thành những gì cần phải hoàn thành; sẽ có những điều đáng tiếc xảy ra nhưng hãy nhanh chóng quên chúng đi. Ngày mai là một ngày mới, bạn sẽ bắt đầu nó một cách tươi sáng với tinh thần tập trung cao và không để chuyện quá khứ gây trở ngại”.
Bài học sự nghiệp: Trong công việc, thật hiếm có một ngày hoàn hảo. Đắm chìm vào những sai lầm trong quá khứ hoặc thể hiện thái độ tiêu cực sẽ cản trở bạn tiến bộ và thành công. Hãy nhớ rằng ngay cả sếp của bạn cũng từng mắc lỗi trong quá khứ nhưng họ đã vượt qua và thăng tiến thành công.
Khổng Tử: “ Hãy chọn công việc bạn yêu thích và như vậy bạn sẽ không phải làm việc một ngày nào trong cuộc đời mình”.
Bài học sự nghiệp: Chức vị cao hay lương bổng hậu hĩnh không phải là những yếu tố duy nhất khiến bạn quyết định chấp nhận công việc. Chọn lựa nghề nghiệp mình có hứng thú và đam mê sẽ giúp bạn tận hưởng công việc hàng ngày một cách hạnh phúc.
Mark Twain: “ Hãy tránh xa những người coi thường tham vọng của bạn. Người nhỏ nhen sẽ làm như vậy còn những người vĩ đại sẽ khiến bạn cảm thấy mình cũng có thể trở thành người vĩ đại”.
Bài học sự nghiệp: Hãy tìm cho mình một người cố vấn tốt và tránh xa những người không tin tưởng bạn như sếp hay bắt nạt hay đồng nghiệp đố kị. Đó là những điều bạn phải làm khi bắt đầu sự nghiệp.
Theodore Roosevelt: “ Danh tiếng thuộc về những người thực sự tham gia trận chiến với khuôn mặt thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt; những người chiến đấu quả cảm; những người mắc lỗi và đứng dậy; những người có lòng nhiệt huyết tràn trề và cống hiến hết mình; những người biết vinh quang nếu chiến thắng và nếu thất bại, gục ngã khi dám đương đầu với thách thức, họ sẽ không bao giờ ở cùng những linh hồn lạnh lẽo của những người không biết mùi chiến thắng hay thất bại.”
Bài học sự nghiệp: Hãy đem tất cả những gì bạn có để vận dụng trong sự nghiệp của mình. Có lúc bạn thất bại và có lúc bạn thành công ngoài sức tưởng tượng của mình. Hãy đương đầu thách thức, chấp nhận thiệt thòi, học hỏi từ sai lầm của mình và tiến lên.
Leonardo DaVinci: “Ngay từ bây giờ và sau này, hãy nghỉ ngơi và thư giãn. Làm việc liên tục có thể ảnh hưởng xấu tới phán đoán của bạn.”
Bài học sự nghiệp: Đôi khi, nghỉ ngơi cũng quan trọng như làm việc chăm chỉ. Bị quá sức sẽ làm giảm năng suất cũng như hiệu quả công việc của bạn.
Theo CB
Thứ Tư, 16 tháng 3, 2011
Câu hỏi thi chuyên viên Tài chính cá nhân vào Bank of China, Trung Quốc
Câu hỏi trắc nghiệm chuyên viên Tài chính cá nhân vào
Bank of China, Trung Quốc

(Đáp án cuối câu)
Ký hiệu: Tích đúng chọn “√”, Tích sai chọn "X"
1、个人理财主要考虑的是资产的增值,因此,个人理财就是如何进行投资。(X)
(Điều quan trọng khi thẩm định cho vay tài chính cá nhân chính là xem xét giá trị tài sản tài chính cá nhân của người vay)
2、按照银监会对个人理财业务的定义,商业银行为销售储蓄存款产品、信贷产品等进行的产品介绍和宣传不属于理财顾问服务。(√)
(Theo quy định của Ủy ban Điều tiết Ngân hàng Trung Quốc, dịch vụ tài chính cá nhân là việc các NH bán các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm, các sản phẩm tín dụng để giới thiệu và xúc tiến các sản phẩm không thuộc về các dịch vụ tư vấn tài chính)
3、目前,证券公司的个人理财服务形式主要以代客进行投资操作为主。(X)
(Hiện nay, các công ty chứng khoán đầu tư chủ yếu vào cung cấp dịch vụ dưới hình thức dịch vụ tài chính cá nhân)
4、中银理财贵宾卡为带有“中银理财”标识的借记卡,与普通借记卡具有相同的服务功能。(X)
(Quản lý tài khoản thẻ VIP (VIP Card) là việc "Quản lý tài khoản" thẻ ghi Nợ và ghi Có với các chức năng phục vụ chung cho cùng một tài khoản)
5、中银理财营销渠道的主体是统一标识的物理网点。(√)
(Quản lý tài sản tài chính là dịch vụ truyền thống trong dịch vụ tài chính cá nhân).
6、知识营销原则是指,理财客户经理在营销过程中,使客户在获得物质上的享受、知识上的提高的基础上,自觉地接受中行所提供的各项服务。(X)
(Kiến thức về các nguyên tắc tiếp thị cho phép khách hàng được hưởng quyền truy cập vào tài khoản tài chính, nâng cao kiến thức về cơ sở, và ý thức chấp nhận các dịch vụ cung cấp bởi Ngân hàng Trung Quốc)
7、中国银行理财团队中的成员包括理财客户经理、理财产品经理、柜员和引领员。(√)
(Ngân hàng Trung Quốc cung cấp các dịch vụ cho các khách hàng bao gồm quản lý tài khoản tài chính, quản lý sản phẩm quản lý tài chính, rút tiền và thấu chi tài khoản.)
8、理财规划是技术含量很高的行业,服务态度并不会直接影响理财服务水平。(X)
(Lập kế hoạch tài chính là một việc làm đòi hỏi chuyên môn cao, do đó sẽ không trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng của các dịch vụ tài chính)
9、对个别VIP客户,理财中心工作人员可接受客户委托,替其保管存折、存单、密码、钥匙、有价证券、协议书、印章等文件和物品。(X)
(Khách hàng cá nhân VIP sẽ được các nhân viên chăm sóc khách hàng tại ngân hàng phát tài liệu giới thiệu, CD, mật khẩu, khóa, các hợp đồng, con dấu và tài liệu khác có liên quan đến tài khoản của họ)
10、理财客户经理负责维护和管理客户关系,与客户之间实行单线联系。(X)
(Quản lý tài chính cá nhân là việc cán bộ quản lý chịu trách nhiệm duy trì, quản lý quan hệ khách hàng với ngân hàng một cách chặt chẽ.)
11、个人/家庭管理纯粹风险的工具包括商业保险、社会保险和雇主提供的雇员团体保险。(√)
(Cá nhân /Hộ gia đình thông thường luôn có nhu cầu được quản lý rủi ro, được cung cấp các sản phẩm tài chính bao gồm bảo hiểm thương mại, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm hưu chí, thất nghiệp)
12、税收最小化通常是遗产规划的一个重要动机,也是遗产规划的惟一目标。(X)
(Giảm thiểu thuế phải nộp thường là một động lực quan trọng và duy nhất cho một kế hoạch kinh doanh bất động sản).
13、将终值转换为现值的过程被称为“折现”。(√)
("Chiết khấu" được hiểu là giá trị chuyển đổi cuối cùng của một hàng hóa để trở thành phương tiện thanh toán)
14、复利的计算是将上期末的本利和作为下一期的本金,在计算时每一期本金的数额是相同的。(X)
(Lãi hợp gốc (Lãi add-on giống Việt Nam mình!) được tính bằng cách lãi tính trên số dư nợ ban đầu và gốc trả từng kỳ là như nhau)
15、预期收益率相同的投资项目,其风险也必定相同。(X)
(Các dự án có cùng tỷ lệ lợi nhuận dự kiến như nhau sẽ có cùng rủi ro như nhau)
16、优先认股权是上市公司给予优先股持有人在未来某个时间或者一段时间以确定的价格购买一定数量该公司股票的权利。(X)
(Bán cổ phiếu ưu đãi tại một thời điểm trong tương lai hoặc trong một thời gian xác định là lựa chọn của nhiều công ty trong việc lựa chọn chủ sở hữu cổ phần công ty & xác định giá mua cổ phiếu trước khi niêm yết trên sàn)
17、美元对日元升值10%,则日元对美元贬值10%。(X)
(Đồng đô la có giá cao hơn 10% so với đồng Yên nếu tỷ giá đồng yên Nhật so với đồng USD bằng 10%.)
18、商业银行在外汇市场中的经营活动包括代客买卖和自营业务。(√)
(Ngân hàng thương mại hoạt động trong các hoạt động trao đổi thương mại tại thị trường nước ngoài chủ yếu là các NH bán lẻ)
19、央行不但是外汇市场的参与者,而且是外汇市场的操纵者。(√)
(Các ngân hàng trung ương không chỉ là người tham gia thị trường ngoại hối mà còn là nhà điều hành của thị trường ngoại hối)
20、掉期外汇买卖实际上由两笔金额相同、方向相反、交割日相同的交易构成的。(X)
(Hoán đổi tỷ giá hối đoái thực tế bao gồm hai giao dịch tiền tệ ngược chiều nhau & ngày giao hàng là không đổi)
21、期权费是指期权的执行价格。(X)
(Lệ phí là không bắt buộc khi sử dụng dịch vụ)
22、内在价值是市场价格与期权执行价格之间的差额,而期权价值与内在价值之差即是时间价值。(√)
(Giá thị trường và giá trị thực chất là chênh lệch giữa giá mua thực tế, giá trị tùy chọn và giá trị thực chất do sự khác biệt về thời gian)
23、一国的国际收支处于顺差状态,本币供大于求,将贬值;国际收支处于逆差状态,则本币求大于供,将升值。(X)
(Một quốc gia có cán cân thanh toán thặng dư, cung tiền vượt quá cầu, sẽ làm giảm giá trị tiền tệ, ngược lại khi cán cân thanh toán thâm hụt, nhu cầu tiền tệ vượt quá cung, sẽ làm tăng giá trị tiền tệ)
24、生产物价指数与本国汇率走向的关系并不确定,指数比预期高,可能导致汇率上升,也可能导致汇率下降。(√)
(Chỉ số giá sản xuất cao hơn dự kiến có thể dẫn đến suy giảm tỷ giá hối đoái)
25、零售物价指数是一国通胀状况的指示器之一,反映的是人们生活费用的变化。(X)
(Giá bán lẻ thể hiện một phần tình hình chỉ số lạm phát, và là một chỉ báo phản ánh những thay đổi trong chi phí sinh hoạt.)
26、欧洲日元是指存放于欧洲银行中的日元存款。(X)
(Đồng yên được lưu trữ trong Ngân hàng châu Âu ở châu Âu thì tiền gửi tại đó phải là đồng Yên)
27、耐用品是指能够持续使用三年或三年以上的产品,如计算机、飞机等。(√)
(Hàng hóa lâu bền là những sản phẩm sử dụng từ 3 hay nhiều năm liên tục như máy tính, máy bay)
28、标准普尔500指数对美元汇率的影响最大。(X)
(Chỉ số chứng khoán S&P 500 tác động lớn nhất đến đồng đô la)
29、因其信用度高,英国国债又被称为“金边债券”。(X)
(Trong thời kỳ tín dụng tăng nóng, các khoản nợ quốc gia của Anh còn được gọi là "gilt-edged securities" (Chứng khoán hảo hạng - Chứng khoán viền vàng) )
30、上海黄金交易所是国内的一级黄金市场。(√)
(Sàn giao dịch vàng Thượng Hải là sàn giao dịch vàng lớn nhất trong nước)
31、黄金具有价值稳定、流动性高的优点,是对付通货膨胀的有效手段。(√)
(Vàng có các ưu điểm là giá trị ổn định, tính thanh khoản cao và là một công cụ hiệu quả để đối phó với lạm phát)
32、标金是黄金市场最主要的交易品种,它的出现是市场成熟的表现。(√)
(Kinh doanh vàng tiêu chuẩn là loại vàng quan trọng nhất của thị trường vàng, nó xuất hiện minh chứng cho sự trưởng thành của thị trường)
33、个人实盘黄金买卖的投资者在需要时可以向银行申请办理黄金的实物交割。(X)
Bản quyền: GiangBLOG
Dịch: GiangBLOG






