Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm hiểu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm hiểu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

Nhìn nhận Game Online và Các phương thức để từ bỏ chơi game


Gần đây, báo chí nhắc nhiều đến tác hại của game online (GO) đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến giới trẻ theo chiều hướng xấu đi. Xã hội ảo này đã cuốn hút biết bao người tham gia, phần lơn đang ở tuổi học trò. Tôi cũng đã từng tham gia chơi GO, nên ít nhiều tôi cũng biết đến tác hại của GO đến bản thân và gia đình, nói đến lợi ích thì chả được bao nhiêu, nhưng tác hại thì vô cùng nhiều :
- GO là hệ thống trò chơi tương tác, ở trong đó mọi thứ đều ảo, nhưng được mua bằng tiền thật, có nhiều người phải bỏ ra hàng trăm, đến hàng triệu để mua những trang bị trong GO, dẫu vẫn biết rằng chúng chỉ là ảo mà thôi. Vâng, tác hại tôi muốn nói ở đây chính là gây thiệt hại lớn và tiền của trong gia đình mà không mang lợi ích gì cả.
- Một khi đã nghiện GO, rất khó bỏ, đi đâu, làm việc gì, ở chỗ nào cũng nghĩ đến game. Chỗ nào có người bàn luận về GO mà mình tham gia thì tham gia trò chuyện rất sôi nối, nói ra xấu hổ, ngày xưa tôi quên cả bữa trưa khi ngồi nói chuyện với hai bạn game khác. Khi bạn luận về game, người ngoài cuộc nhìn nhận và đánh giá con người mình sẽ không có hình ảnh tốt đẹp nào cả.
- Khi suy nghĩ đến Game nhiều như vậy, tôi cảm thấy rằng trí nhớ của mình dần giảm đi rất nhiều, dù vẫn học hành, làm việc, ăn uống bình thường. Nhận thức của bản thân về vấn đề xung quanh không được nhạy bén như xưa nữa, có thể nói, GO làm cho đầu óc mình "đần độn" đi.
- Bạn bè tôi, vì không có tiền chơi game và mua trang bị trong game, nó đã rút tiền cha mẹ, có lẽ nó còn chút lương tri khi nghe mẹ than phiền, nó lại đi cướp giật ngoài đường, số phận của nó đã định ngày trong tương lai ngồi trong "nhà đá" - điều này tôi biết, nó cũng biết, nhưng làm thế nào được khi nó đã nghiện game. Lại nhớ, mấy ngày trước báo có đưa tin, nhiều người bị loạn dâm khi tham gia game sex hay giết người khi tưởng rằng mình đang sống trong xã hội không pháp luật - xã hội ảo. Giờ đây, tôi có thể xếp game online vào một trong những tệ nạn nguy hiểm của xã hội và tệ nạn này sinh ra các tệ nạn khác như cướp bóc, phá hoại,....giết người.
Bỏ game bạn nghĩ là rất khó, nhưng tôi lại thấy dễ khi tôi đã quyết tâm, tôi nghĩ bạn cũng vậy. Dưới đây tôi đưa ra một số cách, bạn thử đọc qua, có thể giúp bạn phần nào không ?
- Đâu tiên, bạn có muốn bỏ game hay không ? Nếu muốn bỏ, quyết tâm bỏ, xin mời bạn kéo xuống xem tiếp, nếu không mời bạn xem bài khác. Bởi bạn không muốn bỏ thì không có cách gì để giúp bạn bỏ game cả !
- Là con người, tôi nghĩ ai cũng có tình cảm, tình yêu thương. Nếu gia đình bạn thuộc diện trung bình, nghèo. Khi bạn muốn chơi game, không thể kìm lòng được, bạn hãy nghĩ đến những người xung quanh bạn, yêu thương bạn có thế là người mẹ vất vả ganh rong mỗi ngày, cũng có thể là người cha lặn lội đạp xe đạp ngày hè nắng gắt để kiếm gạo nuôi con,,..... nhiều lắm, mỗi người có một gia đình, có một hoàn cảnh riêng, nỗi khổ riêng, bạn phải biết được những điều đó thì may ra lòng bạn sẽ kéo bạn lại mỗi khi bạn ngồi gần máy tính. Không nhất thiết phải nghĩ đến gia đình, có khi bạn nghĩ đến "nhỏ" trong lớp mà bạn mếm và bạn phải nghĩ rằng : " Mình phải tạo hình ảnh đẹp trong mắt cô ấy". Tôi cũng có một người bạn, chơi game cũng rất lâu rồi, gia đình dù có mắng, cấm thế nào thì ảnh vẫn chơi game. Nhưng chỉ một câu nói :" Bồ nghỉ game đi " của nhỏ cùng bàn lại có sức mạnh thần kì đến như vậy. Anh ta chẳng đụng tới game nữa. Phải đặt vào vị trí của anh ta may ra mình mới biết được sức mạnh của lời nói vừa rồi bạn nhỉ ? Vậy nên bạn nào có " ấy " của mình đang chơi game, thì có lẽ bạn là người tác động "ấy ấy" của bạn bỏ game hiệu quả nhất đấy.
- Bạn có thể tự viết lên tường, tờ giấy to dán ngay đầu màn hình máy tính dòng chữ nhắc nhở như " Không bao giờ được chơi game online nữa", " Quyết không chơi game", .... hay tự hứa với cha mẹ hoặc ấy của mình là không chơi nữa, bạn tự hứa thì bạn sẽ có trách nhiệm với lời hứa hơn là người khác ép.
- Bạn có thể tìm hiểu một số hoạt động khác bên ngoài, hay nói cách khác là tạo cho mình đam mê lành mạnh khác. Nếu bạn vẫn không thể rời khỏi chiếc máy tính thì hãy xóa tất cả các chương trình game, biểu tượng, hình ảnh khiến mình nhớ đến game. Bạn không nên phá hư máy. Vậy không có tác dụng. Khi bạn thích dùng máy tình, chạy vèo ra quán ngay. Mà ra đấy, thấy người ta chơi, mình thèm sao chịu nổi !. Bạn có thể đọc báo, chat có thời hạn với bạn bè ( không phải bạn game nha ), làm blog, làm web, nghe nhạc, xem ti vi, .....
- Nếu là kì nghỉ hè, tôi nghĩ bạn có thể về vùng quê chơi, với quyết tâm " thời gian này mình sẽ nghỉ game", theo đó bạn cố gắng hạn chế dần hình ảnh của game xuất hiện trong đâu đi bạn nhé.
- Bạn thử nghĩ xem, lúc trẻ bạn ăn chơi lêu lổng, không chịu học hành tiến thân, lúc về già sẽ thế nào ?
- Khi đã bỏ được game rồi, bạn đừng bao giờ chơi trở lại nhé, dù chỉ là thử. TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯỢC!
Ngay bây giờ, bạn có thể từ bỏ GO rồi đấy, nhưng trước khi từ bỏ hãy tạm biệt những ngượi bạn trên game một cách đàng hoàng nhé, tôi nghĩ nó cũng sẽ giúp bạn bớt luyến tiếc hơn đấy.

Bạn còn cách nào có thể giúp các bạn trẻ bỏ GO hãy gửi cho tôi : nguyenduc308.268@gmail.com hoặc đăng ngay dưới bài viết này.

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2011

Khái niệm cái kì ảo và văn học kì ảo trong nghiên cứu văn học


Về khái niệm cái kì ảo và văn học kì ảo trong nghiên cứu văn học



1. Cái kì ảo (fantastic) là một hình thái nhận thức thẩm mĩ đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu văn học thế giới trong vòng mấy thập kỉ trở lại đây. Đây không phải là một sự ngẫu nhiên. Tưởng chừng như một nghịch lí, càng về những năm cuối thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21 này, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, hơn bao giờ hết nhân loại lại cần đến một hình thái nhận thức thẩm mĩ, một loại hình văn học nghệ thuật của những tưởng tượng kì ảo để tìm lại trạng thái cân bằng cho đời sống tâm linh trong một xã hội mà nhịp độ căng thẳng của nó đã làm “tha hoá” con người và làm xơ cứng đi nguồn suối tưởng tượng và chất thơ, một bình diện không thể thiếu của đời sống tâm linh. Ở Việt Nam, cùng với bối cảnh văn hoá chung của thế giới như vừa nêu trên, sự quan tâm trở lại với cái kì ảo còn có một ý nghĩa riêng: đất nước chuyển từ hoàn cảnh chiến tranh sang cuộc sống bình thường, có sự dân chủ hoá trong quan niệm từ lập trường nhất nguyên sang cái nhìn đa nguyên về cuộc sống, đồng thời, nhiều vấn đề phức tạp của cuộc sống thường nhật vốn bị xem nhẹ hoặc giản đơn hoá trong xã hội thời chiến nay cần phải xem xét lại, và không dễ gì giải quyết bằng một quan niệm thông thường mà phải dùng đến hình thức đặc biệt của nghệ thuật mới có thể cắt nghĩa được nó… Đó là những lí do cơ bản cho sự quan tâm trở lại đối với cái kì ảo trong đời sống văn học hiện thời.


2. Tuy nhiên, giới nghiên cứu văn học trên thế giới đến nay vẫn chưa dễ gì có một quan niệm thống nhất về cái kì ảo và văn học kì ảo. Về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau ở chỗ: cái kì ảo phải đề cập đến cái siêu nhiên (supernatural), cái không thể xảy ra (impossible). Tuy nhiên, liệu có phải cứ đề cập đến cái siêu nhiên, cái không thể xảy ra thì đó là cái kì ảo và văn học kì ảo hay không? Sự không thống nhất trong quan niệm về cái kì ảo do vậy tập trung vào một số bình diện sau: tính lịch sử của cái kì ảo - cái kì ảo đã xuất hiện từ trong văn học dân gian hay chỉ ra đời trong thời hiện đại cùng với sự phát triển của chủ nghĩa duy lí (rationalism)? Sự khác biệt giữa cái kì ảo (fantastic) và cái phóng túng hư huyễn thuần tuý (fantasy), cái huyền diệu (marvellous)? Sự phức tạp trong cách hiểu về cái kì ảo còn nảy sinh ngay trong quan niệm về cái tưởng như đã giành được sự thống nhất trong giới nghiên cứu: quan niệm như thế nào là cái không thể xảy ra? Liệu cái không thể xảy ra có phải là cái không có thực (unreal) hay không?

Một quan niệm về cái kì ảo không thể không đi liền với quan niệm của chúng ta về cái hiện thực (reality). Sự nan giải khi đi tìm một định nghĩa thích đáng cho cái kì ảo, do vậy, là ở chỗ quan niệm về hiện thực của chúng ta không cố định mà thay đổi không ngừng theo trình độ phát triển nhận thức của con người và thay đổi theo quan niệm của từng không gian văn hoá khác nhau. Ở thời điểm này, một sự kiện được đánh giá là siêu nhiên, là không thể xảy ra nhưng ở một thời điểm khác, sự phát triển của khoa học kĩ thuật lại có thể chứng minh sự tồn tại của nó là hiện thực. Trong mặt bằng nhận thức đương đại của chúng ta, cùng với cô bé Alice trong Alice ở xứ sở diệu kì (Alice in Wonderland) của L.Carroll, chúng ta có thể ngạc nhiên và thích thú khi cái cây cất lên tiếng nói, nhưng rất có thể rằng trong thế kỉ tới, chuyện cái cây có thể giao tiếp với con người là một điều có thể xảy ra trong điều kiện thành tựu khoa học cho phép, và khi đó chúng ta lại cho là không bình thường khi có một ai đó quan niệm rằng cây cối chỉ là vật vô tri vô giác không thể hiểu được tiếng người. Cũng vậy, nhiều thế kỉ trước, hình tượng tấm thảm bay chỉ thuần tuý là sản phẩm trong trí tưởng tượng đầy chất lãng mạn của con người, là một cái không thể xảy ra, nhưng trong cuộc sống hiện đại, khoa học đã thực tại hoá ước mơ ấy bằng những phương tiện như máy bay, khinh khí cầu…, thì nó lại trở thành cái thực tại! Hơn nữa, ngay trong chính thế giới hiện đại của chúng ta, ở một mặt bằng nhận thức chung, nhiều sự kiện được cho là cái không thể xảy ra, thì đối với những người ở một không gian văn hoá khác, nó lại là điều hết sức bình thường, mà sự phát triển với nhiều thành tựu của chủ nghĩa hiện thực thần kì (magical realism) [chủ nghĩa hiện thực huyền ảo] Mĩ Latin là một thí dụ điển hình.

Như vậy, cái không thể xảy ra không phải là cái không có thực. Nó có thực, nó vẫn tồn tại nhưng theo một hệ quy chiếu khác, bởi xung quanh chúng ta tồn tại đồng thời nhiều thế giới với những hệ quy chiếu khác nhau. Thế giới (cảm tính) của chúng ta chỉ là một trong số đó, và ta đánh giá một sự kiện là không thể xảy ra bởi ta nhìn nó từ hệ quy chiếu của riêng chúng ta, bởi nó không thể được giải thích theo những quy luật thông thường trong hệ quy chiếu này.


3. Có thể nói rằng, cái không thể xảy ra, cái siêu nhiên là thành tố tất yếu của cái kì ảo, nhưng không thể dừng lại ở cấp độ quan niệm cho rằng cái kì ảo đồng nghĩa với cái không thể xảy ra, cái siêu nhiên, và cứ đề cập đến chúng thì đó là văn học kì ảo. Trước khi đề cập đến một cách tiếp cận hợp lí cho việc nghiên cứu về cái kì ảo, chúng ta cần nhìn lại lịch sử ra đời và lịch sử nghiên cứu về khái niệm này.

3.1. Về mặt từ nguyên học, chữ fantastic (tiếng Pháp: fantastique, tiếng Latin: phantasticus), xuất hiện trong tiếng Anh Trung cổ thế kỉ 14, vốn có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp chữ phantastikos, có nghĩa là “tạo ra những hình ảnh thuộc về tinh thần”, và chữ phantazein, có nghĩa là “xuất hiện trong tâm trí”[i]. Trong nghiên cứu văn học, sự ra đời của chữ fantastic với tư cách là một thuật ngữ văn học như ngày nay cũng thật ngẫu nhiên. Theo Allienne Backer trong Lời giới thiệu cho tuyển tập các bài luận nghiên cứu về cái kì ảo trong hội nghị thường niên lần thứ 15 tổ chức tại Florida (Mĩ) tháng 3 năm 1994 của Hiệp hội quốc tế về cái kì ảo trong nghệ thuật (International Association of the Fantastic in the Arts), thì, mặc dầu từ Sử thi về chàng Gilgamesh[ii], các nhà nghệ sĩ đã sáng tạo nên những tác phẩm có tính chất kì ảo, nhưng mãi đến đầu thế kỉ 19, các học giả mới bắt đầu định hình một lí thuyết về cái kì ảo. Người Pháp bắt đầu xây dựng lí thuyết về cái kì ảo khi năm 1828, một dịch giả vô danh đã dịch tập truyện Fantasiestücke của nhà văn người Đức E.T.A. Hoffmann sang tiếng Pháp dưới tiêu đề Những truyện kể kì ảo (Contes fantastique). Trong khi Hoffmann muốn ngụ ý những câu truyện của ông là cái fantasie hay fantasy (tức chỉ đơn thuần có tính chất tưởng tượng phóng túng) thì dịch giả lại gọi chúng là fantastique. Sau đó, dịch giả này đã tiến đến định nghĩa fantastic như là một thể loại được đặc trưng bởi tính chất mơ hồ, yếu tố làm cho chúng ta không thể xác định được liệu các sự kiện diễn ra trong thế giới thực hay trong phạm vi của cái siêu nhiên. Ngay sau đó, Adolphe-François Loeve-Veimars, một nhà báo Pháp gốc Đức, người viết cho tờ tạp chí văn học Paris ra định kì rất có uy tín, bắt đầu dịch tác phẩm của Hoffmann. Quyển đầu trong tổng số hai mươi tập của ông, với tiêu đề Các truyện kể kì ảo (Contes fantastique) xuất hiện năm 1829. Trong một thời gian ngắn, người Pháp đâu đâu cũng đọc truyện của Hoffmann trong khi đó các nhà phê bình văn học đề cao các tác phẩm của ông, khẳng định rằng ông là người sáng tạo ra một loại hình sáng tác hư cấu mới mà Marcel Breuillac miêu tả như là một thể loại trung gian giữa cái huyền diệu và cái hiện thực[iii]. Tuy nhiên, người đầu tiên đề cập đến vấn đề mà ngày nay chúng ta định danh bằng thuật ngữ cái kì ảo lại là một học giả người Anh tên là Joseph Addison (1672-1719). Trên tờ The Spectactor (1712), trong bài luận bàn về “Những khoái cảm của sự tưởng tượng”, Addison đã trực tiếp đề cập đến cái mà ông gọi là “lối viết theo kiểu truyện cổ tích thần kì” (the fairy way of writing), tức là những sáng tác hiện đại viết theo cách thức bắt chước những câu chuyện cổ tích và những khúc ballad có tính chất siêu nhiên cổ xưa. Tuy không trực tiếp đề cập đến thuật ngữ fantastic, nhưng bài phê bình của Addison đã tạo lập nên một sự thảo luận mạch lạc đầu tiên về cái kì ảo như là một hình thức riêng biệt khi ông cho rằng những sáng tác viết theo phương thức này đã “tạo ra một loại khoái cảm về nỗi sợ hãi trong tâm trí độc giả và làm thoả mãn trí tưởng tượng của độc giả bởi những cái lạ lùng và tính chất khác thường của những con người được miêu tả trong đó. Chúng nuôi dưỡng trong trí nhớ của chúng ta những câu chuyện mà chúng ta nghe từ thuở ấu thơ và thích thú với những nỗi khiếp sợ bí mật, những nỗi sợ hãi mà trí óc con người phải lệ thuộc vào nó một cách tự nhiên”[iv]. Luận giải của Addison về sự tưởng tượng có tính chất đặt nền móng cho những tiểu luận mĩ học thế kỉ 18 bàn về cái kì ảo như là một diễn ngôn về cái siêu phàm (sublime) trong văn chương với các tác giả Hurd, Aikin, Coleridge, Radcliffe, Scott, cho đến những tiểu luận của các nhà nghiên cứu về sau, từ Mac Donald bàn về sự tưởng tượng kì ảo (fantastic imagination) cho tới cái lạ lùng (uncanny) trong nghiên cứu của S.Freud, hay “sự do dự” (hésitation) như là bản chất của cái kì ảo theo quan niệm của Todorov…

3.2. Trong việc đi tìm một định nghĩa cho cái kì ảo và văn học kì ảo, chúng ta cần tránh sự cực đoan của cả hai khuynh hướng trái ngược nhau: khuynh hướng thứ nhất, đồng nhất cái kì ảo với cái huyền diệu (marvellous) và tất cả các dạng thức tưởng tượng huyễn hoặc đối lập với hiện thực, theo đó văn học kì ảo đã ra đời từ thời xa xưa, và các hình thức cụ thể của nó thì bao trùm một lĩnh vực rộng lớn từ kiểu truyện cổ tích thần kì (fairy tale) đến văn học viễn tưởng (science fiction) trong thời hiện đại. Quan niệm này thường bắt gặp ở các tác giả khi truy tìm cội nguồn của cái kì ảo từ các yếu tố hư huyễn, hoang đường trong văn học dân gian, đã đồng nhất những hình thức đó với chính cái kì ảo. Chẳng hạn Marshall B.Tymm, đồng biên soạn cuốn Văn học Fantasy: Tinh tuyển và gợi hướng tham khảo (Fantasy Literature: A Core Collection and Reference Guide) đã chia thể loại này thành fantasy cấp cao và fantasy cấp thấp[v].

Fantasy cấp thấp thường xây dựng một thế giới vật chất quen thuộc và lí tính, và thách thức chúng ta bằng sự cùng tồn tại của cái phi lí tính (chúng ta vẫn thường hiểu dạng thức này là cái kì ảo (fantastic) và văn học kì ảo). Fantasy cấp cao, sáng tạo một thế giới thứ cấp, lại được chia thành fantasy huyền thoại và fantasy kiểu truyện thần tiên, với Theogeny của Hesiod, Hoá thân (Metamorphoses) của Ovid, Elder Edda và Kinh thánh cũng được xem là thuộc loại này[vi]. Thực ra, những hình thức mà Marshall B.Tymm gọi là fantasy cấp cao đó chỉ có tư cách như là cội nguồn và tiền đề cho một sự thay đổi về chất dẫn đến sự ra đời của cái kì ảo thực thụ trong kỉ nguyên hiện đại khi có sự vươn lên thống trị của lí tính và các tiến bộ của khoa học kĩ thuật cho phép con người thôi tin vào các phép màu huyền diệu, còn các nhà văn thì sáng tạo nên những chuyện thần kì quái đản chỉ vì những mục tiêu thuần tuý nghệ thuật của mình. Khuynh hướng thứ hai, quá thu hẹp phạm vi của cái kì ảo, do vậy vô hình trung đã bỏ qua rất nhiều các tác phẩm thực chất vẫn thuộc vào loại hình văn học này. Khuynh hướng này thường bắt gặp ở cách lí giải của các nhà cấu trúc luận. Tz.Todorov trong công trình Dẫn nhập văn học kì ảo (tiếng Pháp: Introduction à la littérature fantastique (1970), Richard Howard dịch sang tiếng Anh tiêu đề: The Fantastic: A Structural Approach to a Literary Genre) đã xác định bản chất của cái kì ảo như là sự do dự (hésitation) của các nhân vật và độc giả giữa những cách giải thích có tính hiện thực và có tính siêu nhiên trước các sự kiện lạ lùng: “Trong một thế giới chính là thế giới của chúng ta này, thế giới như chúng ta vẫn biết là chẳng có quỷ dữ, thiên thần hay ma cà rồng, xảy ra một sự kiện không thể giải thích được bằng các quy luật của thế giới thân thuộc. Người chứng kiến sự kiện này phải chọn lựa một trong hai giải pháp có thể xảy ra: hoặc anh ta là nạn nhân của một ảo giác trong nhận thức, một sản phẩm của trí tưởng tượng, và những quy luật của thế giới do vậy vẫn tiếp tục tồn tại, hoặc sự kiện này thực sự đã xảy ra, nó là một bộ phận trọn vẹn của hiện thực – nhưng thế thì hiện thực này bị kiểm soát bởi những quy luật mà chúng ta không biết (…). Cái kì ảo diễn ra trong khoảnh khắc của sự không xác định được này. Một khi chúng ta chọn giải pháp này hoặc kia thì chúng ta đã rời bỏ cái kì ảo để sang một thể loại lân cận: cái lạ lùng (uncanny) hoặc cái huyền diệu (marvellous). Cái kì ảo là sự do dự được cảm nhận bởi một người đang đối mặt với một sự kiện có vẻ siêu nhiên, mà anh ta lại chỉ biết các quy luật tự nhiên”[vii]. Về cơ bản, quan điểm của Todorov về cái kì ảo là thống nhất với các nhà phê bình Pháp ở các thập kỉ trước đó như Georges-Pierre Castex, Roger Caillois, Louis Vax… trong truyền thống của các học giả Pháp vẫn miêu tả cái kì ảo như là một thể loại được đặc trưng bởi tính chất mơ hồ, yếu tố làm chúng ta không thể xác định được liệu các sự kiện trong truyện là diễn ra trong một phạm vi nào đó của cái siêu nhiên hay là trong thế giới hiện thực[viii]. Đóng góp của Todorov là cách tiếp cận mới mang tính hình thức luận đối với cái kì ảo, theo đó cái kì ảo được quyết định từ yếu tố hình thức - cấu trúc chứ không phải từ nội dung. Cách tiếp cận này có ưu điểm rõ rệt trong việc tạo nên một bộ công cụ có tính thao tác cho việc xác định cái kì ảo và văn học kì ảo. Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế sau: thứ nhất, một sự khu biệt có tính cấu trúc luận cái kì ảo vào sự do dự giữa cái lạ lùng và cái huyền diệu, Todorov đã bỏ qua nhiều tác phẩm khác vẫn thuộc loại hình này nhưng không được đặc trưng bởi sự dao động giữa hai cực đó, đặc biệt là các tác phẩm kì ảo hiện đại của thế kỉ 20. Đặc trưng mà Todorov nêu ra chỉ mang tính điển hình cho các tác phẩm kì ảo truyền thống của thế kỉ 19, do vậy, không phải ngẫu nhiên, Todorov tự giới hạn cho sự khảo sát của mình đến cuối thế kỉ 19 với các tác phẩm của Maupassant. Đáng chú ý là ở cuối công trình của mình, Todorov cũng đã ít nhiều đề cập đến cái kì ảo trong tác phẩm Kafka như là một cái kì ảo hiện đại, cái kì ảo có tính hiện sinh, theo đó, con người trong thời hiện đại đang do dự bởi không thể cắt nghĩa được cái hiện sinh của chính mình. Thứ hai, chỉ chú ý tới bình diện cấu trúc, Todorov cũng đã bỏ qua mặt nhận thức luận, một bình diện cũng rất quan trọng khi tiếp cận cái kì ảo và văn học kì ảo. Một bước phát triển cực đoan cho cách tiếp cận mang tính cấu trúc luận này được thể hiện trong nghiên cứu của nhà phê bình Mĩ Eric Rabkin. Trong công trình Cái kì ảo trong văn học (The Fantastic in Literature), cắt nghĩa cái kì ảo từ khoảnh khắc của sự đọc, Rabkin cho rằng “một trong những điểm then chốt xác định nên cái kì ảo là những điểm nhìn tuân theo những nguyên lí cơ bản của thế giới tự sự phải bị phủ nhận hoàn toàn”[ix]. Rabkin đã dẫn ra một đoạn văn của J.Borges như sau: “Trên những trang tài liệu đó, người ta đã viết rằng loài vật được chia thành (a) những loài thuộc quyền sở hữu của Thượng đế, (b) những loài đã bị ướp xác, (c) những loài được huấn luyện, (d) những con lợn sữa, (e) người cá, (f) những con vật thuộc thế giới hoang đường, (g) những con chó hoang, (h) những loài vật được bao hàm trong sự phân loại này, (i) những con vật run rẩy cứ như thể chúng bị điên, (j) những loài vật không thể tính đếm xuể, (k) những con vật bị chải ra từ một chiếc bàn chải lông cừu xinh xắn, (l) những loài vật khác, (m) những loài vật vừa đập vỡ một chiếc bình hoa, (n) những loài vật nhìn từ xa trông giống như những con ruồi.”[x] Có thể nhận thấy Borges đã cố ý tạo ra mâu thuẫn liên tục trong khi liệt kê phân loại các loài khi chúng hoặc là không đồng đẳng với nhau theo một tiêu chí nhất định, hoặc là nhóm sau phủ nhận nhóm trước xét về logic ngôn ngữ: chẳng hạn, nhóm (a) “những loài thuộc quyền sở hữu của Thượng đế” mặc nhiên là phải bao trùm toàn bộ các loài khác trong vũ trụ nói chung chứ không chỉ riêng “những loài vật khác” của nhóm (l). Sau khi phân tích rằng đoạn văn trên đã gây ra hiệu ứng do dự cho người đọc từ cấp độ này sang cấp độ khác, từ câu này sang câu khác bởi có sự mâu thuẫn liên tục đó giữa câu sau với câu trước, giữa nhóm động vật này với nhóm động vật kia được đem ra phân loại, Rabkin đi tới kết luận rằng, bản thân cấu trúc ngôn ngữ cũng tạo ra một sự do dự không thể cắt nghĩa được nơi người đọc trong quá trình đọc, bởi vậy, “cái kì ảo hoàn toàn có thể tồn tại trong thế giới ngôn ngữ”[xi]. Rõ ràng, chỉ chú ý tới bình diện cấu trúc của hiệu ứng do dự, Rabkin đã đi tới sự cực đoan khi quên đi một bình diện quan trọng là bình diện nhận thức luận trong việc tiếp cận cái kì ảo, bởi ngay cả trong cấu trúc ngôn ngữ tạo ra sự mâu thuẫn, nếu không được hỗ trợ bởi mặt nhận thức luận đứng đằng sau, ở đây là nhận thức sơ đẳng của người đọc về thế giới tự nhiên, về các giống loài, và logic của quy luật khái quát hoá, thì cũng không thể nảy sinh hiệu ứng do dự được, nếu không, nó hoặc là sản phẩm của một người đầu óc có vấn đề, hoặc chỉ đơn thuần là một trò chơi chữ về logic ngữ nghĩa kiểu “cha tôi bị thương ở hai nơi: một nơi ở bắp tay và một nơi ở Đèo Khế” mà thôi!

4. Trên cơ sở nhìn lại lịch sử nghiên cứu về cái kì ảo, chúng tôi muốn có một sự tiếp cận cái kì ảo trên lập trường hiện tượng luận (phenomenology). Gắn liền với sự tưởng tượng và không thể thiếu được yếu tố siêu nhiên và không thể xảy ra, cái kì ảo đã có nguồn gốc xa xưa trong những sáng tác dân gian. Tuy vậy, sẽ là quá rộng khi đồng nhất cái kì ảo với cái siêu nhiên, cái không thể xảy ra, và cứ đề cập đến cái siêu nhiên, cái không thể xảy ra thì đó là văn học kì ảo, khi đó văn học kì ảo sẽ bao trùm cả những sáng tác cổ tích, bởi rõ ràng trong các truyện cổ tích, đặc biệt là truyện cổ tích thần kì thì cái siêu nhiên tồn tại với một sự áp đảo.

Trước hết, có thể khẳng định rằng, cái kì ảo phải diễn ra trong một môi trường có tính hiện thực ở đó sự tưởng tượng được phép phát triển ồ ạt, và đi cùng với điều đó thì tính chất mơ hồ, lưỡng trị là đặc trưng cơ bản của thể loại. Cái kì ảo chỉ tồn tại khi đối diện với nó, người ta luôn có ý thức về một sự đối lập giữa những cái siêu nhiên hư huyễn với thế giới thực tại. Đứng từ góc độ này, ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân là rất xác đáng khi ông cho rằng trên bình diện thế giới, loại truyện kiểu Nghìn lẻ một đêm là nguồn gốc cho cái kì ảo và văn học kì ảo hơn là truyện thần thoại kiểu thần thoại Hi Lạp[xii], bởi về bản chất, thần thoại là khoa học về thế giới của người nguyên thuỷ, và do vậy những người sáng tạo ra thần thoại thì tin tưởng vào tính hiện thực của sự tồn tại của các vị thần cũng như các hiện tượng siêu nhiên. Trong khi đó, với những câu chuyện cổ tích dân gian, đặc biệt là chuyện cổ tích thần kì, thì tác giả của những câu chuyện cổ đó đã có ý thức đối lập giữa cái hiện thực với cái không thể xảy ra và xây dựng những câu chuyện như là phương tiện để giải trí trong đó họ đề cập đến những hư cấu, những tưởng tượng huyễn hoặc ít nhiều có tính chất đối lập với thực tại.

Do vậy, một cách sơ bộ, chúng ta có thể kết luận rằng, cái kì ảo là cái không thể cắt nghĩa được bằng lí tính từ điểm nhìn của chúng ta với tầm nhận thức hiện tại. Chính cái không thể cắt nghĩa được bằng lí tính ấy đã tạo nên một “sự đứt gãy trong chuỗi liên kết vũ trụ” (Roger Caillois), gây ra tâm trạng hoang mang cho những người nào đối diện với nó. Cái kì ảo không chỉ đơn thuần là cái siêu nhiên, cái không thể xảy ra; cái siêu nhiên, cái không thể xảy ra ấy muốn trở thành cái kì ảo thì phải có tác dụng tạo ra hiệu ứng hoang mang cho những người nào đối diện với nó. Theo Vax, khi con người không còn xem những mê tín của mình là điều nghiêm túc nữa thì họ sử dụng chúng để sáng tạo nên nghệ thuật[xiii]. Như vậy, có thể khẳng định rằng, ngay khi thoát khỏi tư duy thần thoại, sáng tác nên những câu chuyện cổ tích, thì con người đã có ý thức về tính hiện thực và ít nhiều đối lập tính hiện thực với những cái được cho là “không thể xảy ra”. Tuy nhiên, không thể đồng nhất truyện cổ tích với các sáng tác kì ảo. Vậy sự khác nhau làm nên bản chất của chúng ở đây là gì? Bên cạnh sự khác nhau ở bình diện lịch sử ra đời của hai loại hình, còn có một thực tế trong thực tiễn đời sống văn học là, kể cả những truyện cổ tích thời hiện đại được sáng tác bởi những nhà văn xác định, kiểu truyện cổ tích Andersen, thì chúng vẫn không được xếp vào loại hình văn học kì ảo. Đây chính là chỗ chúng tôi muốn xuất phát từ lập trường hiện tượng luận để phân biệt truyện kì ảo với truyện cổ tích và các sáng tác tương tự. Theo đó, trong bất cứ một sáng tác hư cấu nào cũng luôn tồn tại tính ý hướng (intentionality) của sự sáng tạo. Trong loại hình sáng tác kì ảo, chủ thể sáng tạo khi đề cập đến cái siêu nhiên, cái không thể xảy ra thì luôn có ý thức đối sánh nó với tính hiện thực, cái tự nhiên, cái có thể xảy ra theo quy luật thông thường, làm cho độc giả luôn có ý thức tự động liên hệ, đối sánh cái không thể xảy ra với cái có thể xảy ra. Không phải ngẫu nhiên mà trong hình thức cổ điển ở thế kỉ 19, sáng tác của các nhà kì ảo bậc thầy như W.Irving, E.Poe, G.Maupassant… luôn có giọng thề thốt để tạo nên ấn tượng đối lập giữa tính hiện thực và tính siêu nhiên này; nhiều tác phẩm của E.Poe, mở đầu truyện là giọng điệu khách quan khoa học, thậm chí người kể chuyện còn bàn luận đến cả những vấn đề triết học siêu hình, vấn đề luân thường đạo lí (Đảo tiên, Sự thật về trường hợp kì lạ của ông Valdemar, Con mèo đen,...) để rồi cuối cùng tính khoa học này bị lấn át và thất bại bởi sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ và không thể cắt nghĩa nổi của cái siêu nhiên hư huyễn. Từ phía người đọc, khi bước vào thế giới nghệ thuật của truyện kì ảo, tâm thế của họ cũng là tâm thế của những người đã thôi tin vào những truyện hoang đường và theo dõi câu chuyện bằng sự tỉnh táo, khách quan khoa học của lí trí. Trong khi đó, ở truyện cổ tích, cả truyện cổ tích đích thực và truyện cổ tích hiện đại, thì cả người kể chuyện lẫn độc giả đều tự “đồng loã” với nhau rằng tất cả những điều được kể chỉ là thế giới hoang đường của trí tưởng tượng thuần tuý. Người đọc khi theo dõi câu chuyện không cần có bất cứ một sự liên hệ nào giữa những sự kiện diễn ra trong câu chuyện với thế giới thực tại, hay nói chính xác hơn, sự liên hệ với thực tại không nhằm cắt nghĩa cho tính hiện thực của những sự kiện siêu nhiên. Chính V.Propp trong các công trình nghiên cứu về truyện cổ tích thần kì cũng đã khẳng định rằng truyện cổ tích là sự nói dối hoàn toàn từ đầu đến cuối, “người kể cũng như người nghe không ai coi câu truyện đó có dính dáng gì đến hiện thực”, và ông dẫn ra, ở truyện cổ tích thần kì Nga thì kết lại câu chuyện thường là câu nói của người kể chuyện: “thế là hết, không thể nói dóc hơn được nữa”[xiv]. Một vấn đề được đặt ra ở đây là, cơ chế nào đã tạo ra tính ý hướng ấy cả từ phía tác giả (tất nhiên là một tác giả ẩn tàng chứ không phải là tác giả ngoài đời có lí lịch cụ thể được in trên bìa sách) và độc giả? Đấy chính là những yếu tố nằm trong cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm, cơ cấu này đã tạo nên giọng điệu của tác phẩm giúp độc giả khi theo dõi câu chuyện nhận thức rằng đây là “sự nói dối hoàn toàn” đối với truyện cổ tích, hay là phải thường xuyên liên hệ với tính hiện thực để cố gắng cắt nghĩa các hiện tượng siêu nhiên như trong sáng tác kì ảo. Cũng chính giọng điệu chứ không phải yếu tố nào khác đã biến cùng một nội dung thông báo thành một tác phẩm kì ảo hay là một bản điều tra khoa học[xv]. Không phải ngẫu nhiên, các câu chuyện cổ tích, kể cả cổ tích hiện đại, thường được mở đầu bằng mô hình có tính ước lệ “ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, tại… có một…”. Bên cạnh câu mở đầu có tính ước lệ đó là các chi tiết “chìa khoá” khác như sự xuất hiện thường xuyên của các motif điều ước, motif thử thách trí thông minh, lòng dũng cảm… mà Propp đã mô hình hoá và gọi là những chức năng (đối với truyện cổ tích thần kì dân gian); ngoài ra còn là sự lặp lại nhiều lần của những câu nói, những câu thần chú kiểu như “vừng ơi mở cửa ra” trong truyện Alibaba và bốn mươi tên cướp của Nghìn lẻ một đêm, ở cái kết thường là có hậu theo đạo lí dân gian… Những sự lặp lại đó dường như đã trở thành những mô thức đọng lại trong vô thức của mỗi người tạo nên tâm thế tiếp nhận đặc thù của chúng ta khi tiến vào thế giới riêng biệt ấy (không phải không có lí khi Caillois phân biệt truyện thần tiên với truyện kì ảo ở tính chất kết thúc có hậu của truyện thần tiên cổ tích, còn ở truyện kì ảo thường kết thúc bằng sự chết chóc, mất tích…). Chính các yếu tố này đã tạo nên trường cổ tích có tác dụng dẫn dắt người đọc đi vào thế giới thuần tuý của trí tưởng tượng, tạm thời thoát khỏi cuộc sống hiện thực, và khi gấp sách lại, độc giả lại bước ra khỏi thế giới thần tiên, trở về với thực tại và tự nhủ rằng ta vừa được “thoát tục”, được phiêu lưu vào thế giới thần kì trong chốc lát. Trong khi đó, ở truyện kì ảo, khép sách lại, độc giả không thôi băn khoăn, hoang mang, chính bởi trong quá trình đọc, độc giả luôn bị ràng buộc và liên hệ thường xuyên các sự kiện siêu nhiên với tính hiện thực.
Từ góc độ này, ta có thể kết luận rằng, cái kì ảo có mầm mống xa xưa từ trong văn học dân gian với những truyện cổ tích, sự tích các thánh… bởi như trên đã nói, khi thoát khỏi tư duy thần thoại, sáng tác nên những câu chuyện này thì cũng là lúc con người bắt đầu có ý thức về tính hiện thực và ít nhiều đối lập những hư cấu trong truyện với tính hiện thực. Tuy vậy, quan sát lịch sử phát triển của loại hình này thì rõ ràng, phải đến cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy lí (rationalism), xã hội mới có đủ điều kiện để tạo ra một lớp nhà văn có ý thức rõ ràng trong việc tạo ra một hình thái ý thức thẩm mĩ mới là cái kì ảo và đi cùng với nó là một loại hình văn học mới là văn học kì ảo ở đó luôn có sự đối lập giữa cái siêu nhiên với cái hiện thực trong thế giới nghệ thuật; một lớp độc giả đã thôi tin vào những truyện hoang đường kì diệu, theo dõi câu chuyện bằng con mắt lí tính, có thể chỉ đơn thuần tìm lại cảm xúc sợ hãi hoang mang trước những hiện tượng siêu nhiên chỉ có được ở thuở ấu thơ. Do vậy, sự ra đời của cái kì ảo và văn học kì ảo vừa như là một cảnh báo đối với sự toàn trị của lí trí cứng nhắc, vừa như một sự điều hoà giúp thế giới tâm linh của con người giữ được cân bằng trong thế phản kháng lại sự toàn trị của lí trí làm máy móc hoá con người, đồng thời như một sự khắc phục các khiếm khuyết của tư tưởng duy lí trước các hiện tượng không thể dùng qui luật thông thường để giải thích. Ở phương diện này, cái kì ảo và văn học kì ảo rõ ràng đã mở rộng biên độ của hiện thực, bổ khuyết cho con người trong cái nhìn về hiện thực. Cũng từ góc độ này có thể khẳng định truyền thống truyện truyền kì chí quái phương Đông với những kiệt tác như Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh (Trung Quốc) hay Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ chính xác cần được gọi tên là văn học fantasy, vừa xét về thời điểm ra đời, vừa xét từ đặc trưng nghệ thuật của nó, bởi văn hoá phương Đông, có thể vẫn có sự phân chia thành hai thế giới: sống và chết, tự nhiên và siêu nhiên, cái bình thường và cái dị thường,… song, những nguyên lí triết học - văn hoá ẩn đằng sau đã tạo ra một cơ chế cho phép những người sống trong bầu khí quyển văn hoá ấy, khi đứng trước những câu chuyện như vậy có thể dễ dàng chuyển từ nửa này sang nửa kia mà không gặp những trở ngại trong quá trình tiếp nhận. Do vậy, ở những câu chuyện đó, thế giới ma quái hư ảo được tạo ra không hoàn toàn nhằm mục đích cuối cùng là hiệu ứng hoang mang trước sự rạn nứt của hiện thực mà chủ yếu chỉ là phương tiện để chuyển tải tư tưởng, bài học nhân sinh, đạo lí của cuộc đời.

Như vậy, đồng thời với việc xác định thời điểm ra đời cho cái kì ảo và văn học kì ảo đích thực là kỉ nguyên của lí tính, chúng ta cũng cần có sự phân biệt cái kì ảo (fantastic) với những tưởng tượng hư huyễn phóng túng có tính chất của cái kì ảo, mà trong tiếng Anh được gọi tên bằng thuật ngữ fantasy. “Fantasy”, về bản chất khác với “fantastic”. Từ điển thuật ngữ phê bình hiện đại định nghĩa: “Cái kì ảo, thông thường hiện nay bao gồm nhiều dạng tác phẩm hư cấu khác nhau có sử dụng cái siêu nhiên hoặc có vẻ siêu nhiên (…). Tuy nhiên, không phải tất cả các tác phẩm có chứa đựng cái siêu nhiên hoặc những cái có vẻ ngoài kì quái đều được xếp vào loại hình kì ảo”[xvi]. Cái “fantasy” khác với cái “fantastic” là ở chỗ, cái fantasy chỉ là những tưởng tượng huyễn hoặc, không có trong cuộc đời thực, ít nhiều xuất hiện trong thế đối lập với tính hiện thực. “Các tác phẩm của cái fantasy, chẳng hạn như tiểu thuyết của Tolkien và loạt truyện Narnia của C.S.Lewis, sáng tạo nên những thế giới và huyền thoại biệt lập, có tổ chức một cách mạch lạc (…). Người đọc được dẫn đến cảm nhận không phải là sự hoang mang mà là sự tin tưởng vào trật tự của thế giới siêu nhiên đó, ngay cả với sự sợ hãi và băn khoăn”, trong khi đó, “cái kì ảo không thể tồn tại mà không có quan niệm về một đường ranh giới phân chia rõ ràng (cái mà văn bản vi phạm) giữa những cái có thể tuân theo những qui luật của tự nhiên với những cái siêu nhiên và không thể xảy ra”[xvii]. Fantasy không phải là cái huyền diệu (marvellous), bởi cái huyền diệu xuất hiện trong một thế giới hoang đường hoàn toàn kiểu truyện cổ tích thần kì và không cần một sự quy chiếu nó với tính hiện thực. Trong khi đó, cái fantasy đã xuất hiện ít nhiều trong thế đối lập với lí tính, và chủ thể sáng tạo thì có ý thức đối lập nó với tính hiện thực. Loại hình văn học chứa đựng cái kì ảo (fantastic) và cái fantasy là khác biệt hoàn toàn về phương thức sáng tạo so với truyện cổ tích và những sáng tác chứa đựng cái huyền diệu. Fantasy là bước chuyển trung gian giữa cái huyền diệu với cái kì ảo thực thụ. Một sự phân biệt như vậy giúp chúng ta vừa thấy được tính lịch sử cho sự ra đời của cái kì ảo và loại hình văn học kì ảo, vừa nhìn nó trong dòng chảy liên tục từ cổ đại đến hiện đại, đồng thời, không kém phần quan trọng, chúng tôi muốn nhắc lại lập trường hiện tượng luận của chúng tôi như là xuất phát điểm lí luận cho sự xác định về mặt loại hình, từ đó chúng ta có thể thấy được kể cả những sáng tác trong thời kì hiện đại nhưng theo phương thức cổ tích, có tính ý hướng (từ phía chủ thể sáng tạo lẫn người tiếp nhận) theo kiểu truyện cổ tích thì vẫn không thuộc loại hình văn học kì ảo. Cái khó là sự phân biệt rất không rõ ràng giữa cái fantasy và cái fantastic, đặc biệt là với những sáng tác trong thế kỉ 20. Chẳng hạn, với tác phẩm gây được rất nhiều sự chú ý hiện nay là Harry Potter, mở đầu truyện rõ ràng là xã hội thời hiện đại với những công ti, thị trường chứng khoán, vô tuyến, xe hơi, những con người của thời hiện đại bận rộn kiếm tiền, nhìn các hiện tượng dị thường chỉ là chuyện nhảm nhí,… nhưng sau đó thì tác giả lại đưa độc giả vào một thế giới hoang đường hoàn toàn với những trường đào tạo của thế giới phù thuỷ nơi Harry Potter học tập, phiêu lưu và hành đạo, tiêu diệt các thế lực tàn bạo hắc ám, mà chẳng cần yêu cầu độc giả có bất kì một quy chiếu nào với hiện thực, rồi sau đó lại đưa khán giả cùng Harry Potter trở về với hiện thực khi cậu hết năm học ở trường đào tạo phù thuỷ, được trở về nghỉ hè. Chính đường ranh giới rất khó xác định rạch ròi giữa cái kì ảo và văn học kì ảo với cái fantasy và văn học huyễn tưởng phóng túng nói chung này, đặc biệt là những sáng tác chứa đựng cái fantasy trong thời hiện đại kiểu The Lord of the Rings của Tolkien, hay Harry Potter của J.K.Rowling, Eragon - cậu bé cưỡi rồng của C.Paolini,… cùng với quan niệm của chúng ta về hiện thực là không cố định và thay đổi ngày càng mạnh mẽ trong điều kiện xã hội hiện đại có sự phát triển với tốc độ chưa từng thấy của khoa học kĩ thuật, rồi nhu cầu giải trí thuần tuý của những con người trong thời đại kĩ trị… khiến cho việc xác định một định nghĩa rạch ròi và một thuật ngữ xác định cho cái kì ảo và văn học kì ảo càng trở nên khó khăn. Điều này thường xảy ra với chính các nhà nghiên cứu phương Tây khi họ không có sự phân biệt rõ ràng trong việc sử dụng thuật ngữ fantasy và fantastic. Chẳng hạn, nhà nghiên cứu người Mĩ Brian Attebery trong công trình Các chiến thuật của cái Fantasy (Strategies of Fantasy), và nhiều tác giả khác, đề xuất sử dụng thuật ngữ fantasy như là một thể loại (genre) với tư cách là tất cả những sáng tác chứa đựng yếu tố siêu nhiên hư huyễn xuất hiện trong thế đối lập với lí tính, và fantastic như một phương thức (mode)[xviii]. Hẳn sự khó khăn trong việc phân biệt rạch ròi này khiến không ít các cuốn từ điển thuật ngữ văn học bằng Anh ngữ, chẳng hạn A Glossary of Literary Terms[xix] không có mục từ “fantastic”, kể cả các bộ bách khoa toàn thư như The Encyclopedia AMERICANA[xx] chỉ có mục từ “fantasy”, Webster’s New World Encyclopedia[xxi] chỉ có mục từ “fantasy fiction”, Encyclopaedia Britannica (version 2005, CD-ROM) chỉ có mục từ “fantasy” chứ không có mục từ “fantastic”. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, với những biến thái đa dạng của nó thì cái kì ảo và văn học kì ảo vẫn tiếp tục tồn tại trong thế kỉ 20, tạm thời có thể chia nó ra thành hai hướng phát triển chính xét theo mức độ đậm đặc của yếu tố kì ảo: hoặc phát huy tối đa trí tưởng tượng để phục vụ đối tượng độc giả là trẻ em nói riêng và những độc giả của thời đại kĩ trị nói chung với nhu cầu giải trí thuần tuý, thoát khỏi thế giới thực hàng ngày đầy bận rộn và căng thẳng, chẳng hạn các tác phẩm The Lord of the Rings, Harry Potter,… mà chúng tôi vừa nhắc ở trên – cái kì ảo-fantastic đi đến ranh giới của cái huyễn tưởng-fantasy; hoặc tiết giảm tính chất tưởng tượng bay bổng kì diệu, đồng thời kết hợp cái kì ảo với cái phi lí, cái phi thực, khai thác tính chất triết học của cái kì ảo, cái kì ảo dường như đã trở thành một thành tố tất yếu của hiện thực, chung sống bình đẳng với những cái “có thể xảy ra” khác, từ đó phản ánh cái bí ẩn không thể cắt nghĩa nổi trong chính sự hiện sinh của con người. Những tác phẩm kì ảo của những bậc thầy văn chương trong thế kỉ 20 như F.Kafka, J.Borges, M.Bulgakov, V.Pelevin,… là tiêu biểu cho hướng phát triển này.

5. Tóm lại, khi nghiên cứu về cái kì ảo, văn học kì ảo cũng như cái huyễn tưởng và văn học huyễn tưởng nói chung, thống nhất quan điểm cho rằng mầm mống của cái kì ảo là từ văn học dân gian với các thể loại truyện cổ tích, truyền thuyết bình dân, sự tích các thánh…, tuy nhiên, chúng tôi nghĩ cần có sự đối lập giữa kiểu truyện kì ảo và văn học huyễn tưởng nói chung với kiểu truyện cổ tích bởi sự khác nhau về bản chất trong ý hướng sáng tạo của chúng. Tương tự, một cực kia của sự đối lập với văn học kì ảo và văn học huyễn tưởng là kiểu truyện khoa học viễn tưởng (science fiction), bởi truyện khoa học viễn tưởng cũng đưa người đọc vào một thế giới hoàn toàn hư cấu mà chẳng cần bất cứ một sự quy chiếu nào những sự kiện không thể xảy ra (chính xác ở đây là chưa thể xảy ra) với hiện thực hiện thời để tạo ra một sự hoang mang trong sự cố gắng cắt nghĩa như là cứu cánh - đặc trưng làm nên bản chất của cái kì ảo. Tiền thân, đồng thời là ở một phạm vi rộng hơn, bao trùm lên cái kì ảo (fantastic) và văn học kì ảo là cái huyễn tưởng – fantasy – và văn học huyễn tưởng nói chung. Ở cái kì ảo và văn học kì ảo, cứu cánh là tạo ra một sự rạn nứt của hiện thực quen thuộc, từ đó gây nên hiệu ứng hoang mang trong sự cắt nghĩa khi luôn hướng đến một sự quy chiếu giữa tính chất siêu nhiên với tính thực tại. Ở cái fantasy, cũng có sự đối lập này nhưng nó không tồn tại như là cứu cánh. Chính bởi vậy, thế giới huyễn tưởng của văn học fantasy hoặc chứa đựng ý nghĩa biểu tượng như các tác phẩm fantasy cổ điển, thường có trong thời cổ trung đại, kiểu Thần khúc của Dante, Gargantua và Pantagruel của Rabelais,… hoặc mở rộng biên độ của trí tưởng tượng, thực hiện chức năng giải trí cho lớp độc giả của thời đại kĩ trị kiểu Harry Potter… Về mặt lịch sử, cái fantasy và văn học fantasy xuất hiện từ thời cổ đại, khi chủ thể sáng tạo có ý thức xây dựng trong tác phẩm sự đối lập giữa cái siêu nhiên với cái hiện thực. Đến cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19, khi điều kiện xã hội với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy lí cho phép con người thôi tin vào phép màu nhiệm, và trong tác phẩm, sự đối lập giữa cái siêu nhiên và cái hiện thực tồn tại như là cứu cánh, ấy là thời điểm của sự ra đời cái kì ảo và văn học kì ảo. Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 là thời điểm ra đời của văn học viễn tưởng, cơ sở của nó là văn học kì ảo và văn học huyễn tưởng nói chung, kết hợp với thành tựu của khoa học kĩ thuật; bản chất của nó là tính giả thuyết, tính dự báo của thế giới mà nó đưa ra, cho phép trí tưởng tượng của con người có thể đi trước thời gian hiện tại, quên đi hiện tại để sống với tương lai trong tưởng tượng. Thực tế, các loại hình văn học này (cổ tích, huyễn tưởng, kì ảo, khoa học viễn tưởng) có thể song song tồn tại, bởi các nhà văn có thể sáng tác các truyện cổ tích ngay trong thời hiện đại này, và lúc đó, sự phân biệt đặc trưng loại hình của chúng là tuỳ thuộc vào tính ý hướng của sự sáng tạo, thể hiện qua giọng điệu cụ thể của từng tác phẩm.

Trở lại với ví dụ tác phẩm Alice ở xứ sở diệu kì mà chúng tôi đã nhắc ở trên, một câu hỏi được đặt ra: liệu sau này, khi khoa học cho phép cái cây “biết nói”, người ta có còn cho rằng tác phẩm này là văn học kì ảo nữa không? Có thể khẳng định, nó vẫn thuộc văn học kì ảo, bởi thực tế, văn học có quy luật riêng của nó, khi tham gia vào thế giới ấy là chúng ta đã mặc nhiên chấp nhận những luật chơi riêng của nó. Còn đối với những nhà nghiên cứu có nhiệm vụ khái quát lí luận thì vẫn xem nó là văn học kì ảo bởi họ có hệ quy chiếu là tính lịch sử loại hình mà tác phẩm đó thuộc vào; và một thực tế chắc chắn sẽ xảy ra là sự tiến triển của loại hình, khi đó chẳng ai lại viết một tác phẩm kì ảo, cũng với cứu cánh là hiệu ứng hoang mang trước sự rạn nứt của hiện thực, theo kiểu của Alice ở xứ sở diệu kì hay những tác phẩm của Poe, của Maupassant, Balzac, Gogol,… bởi hiện thực lúc đó không còn trong phạm vi hiện thực của thế kỉ 19, và với sự cho phép của khoa học, con người ta chẳng còn phải băn khoăn với những ma hiện, sự phân thân... nữa. Bởi ngay trong thế kỉ 20 vừa qua, người ta đã chuyển sự băn khoăn và hoang mang từ những ma hiện, sự phân thân đó sang sự phi lí trong cái hiện sinh của chính mình!

Trên đây là những khái quát sơ bộ và quan điểm của chúng tôi xung quanh các khái niệm cái kì ảo và văn học kì ảo. Đó không phải là những quan niệm đông cứng mà cần tiếp tục được thảo luận, bởi lí luận bao giờ cũng đi sau, khái quát thực tiễn sáng tác, bởi văn học kì ảo là một loại hình tiến hoá không ngừng, cùng với sự tiến hoá không ngừng trong quan niệm của chúng ta về hiện thực.

(Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9 (415) – 2006 - Diendankienthuc.net)
ThS. Lê Nguyên Long
(GV. Bộ môn Văn học Phương Tây, Khoa Văn học)

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2011

Các tháng trong năm, các ngày trong tuần: Nguồn gốc tên gọi & các ý nghĩa

Từ thời cổ đại, con người quan sát sự chuyển dời của thời gian bằng cách ghi nhận sự xoay vòng của mặt trăng, hay còn gọi là tuần trăng, với một tuần trăng tương đương với 29.530588 ngày (tức là 29 ngày 12 giờ 44 phút và 3 giây). Do vậy nếu dò theo ngữ nguyên thì chữ moon và month đều xuất phát từ cùng một gốc ngữ hệ Ấn-Âu menes (từ này chỉ cả hai nghĩa moon và month). Trong một năm có mười hai tháng, với tên tiếng Anh lần lượt là January, February, March, April, May, June, July, August, September, October, November, và December. Nếu để ý thấy thì chữ September có tiếp đầu ngữ sept- mang nghĩa là thứ bảy, tức đây là tháng thứ bảy, trong khi September hiện nay được mang nghĩa là tháng chín. Nguyên do là từ thời La-mã cổ đại, ban đầu người ta làm lịch chỉ có mười tháng, từ March đến December, không có January và February. Tên gọi mười tháng đó vào thời La-mã cổ đại là: Martius, Aprilis, Maius, Juniius, Quintilis, Sextilis, September, October, November, và December; với sáu tháng cuối là các từ Latin để chỉ các con số từ 5 đến 10. Sau đó Numa Pompilius đã thêm vào hai tháng January vào đầu năm và February vào cuối năm, tới năm 452 trước Công nguyên thì February được di chuyển nằm giữa January và March.

January:
Bắt nguồn từ tiếng Latin Ianuaris, từ này bắt nguồn từ chữ ianua (nghĩa là “door”), và có liên hệ với vị thần hai đầu Janus, một vị thần bảo hộ chuyên đứng giữ cửa. Theo nhiều học giả thì Janus là vị thần của sự khởi thuỷ, là vị thần đầu tiên trong số các vị thần xuất hiện ở các nghi thức tế lễ. Do vậy mà mọi sự bắt đầu của ngày, tháng, và năm đều được liên hệ với ông ta. Tháng đầu tiên trong năm, January, theo đó mà được đặt theo tên ông ta, với ngụ ý rằng đó là thời điểm mà ông ta với hai cái đầu có thể nhìn về năm cũ cũng như hướng đến năm mới.

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp janvier, Tây-ban-nha enero, Bồ-đào-nha Janeiro, Ý gennaio, Đức Januar (ở Đức và Thuỵ-sĩ) hoặc Janner (ở Áo), Wales Ionawr, tiếng Scots Gaelic an Faoilteach, Ireland Eanáir.

February: Xuất phát từ chữ Latin Februarius, với gốc là từ februa (nghĩa là “means of cleansing”, các hình thức tẩy uế). Tháng này được đặt tên với ý nghĩa là “tháng của sự tẩy uế”, với lễ hội được tổ chức vào ngày 15 để tôn vinh nữ thần Juno với nhân dạng là nữ thần tình ái.

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp février, Tây-ban-nha febrero, Bồ-đào-nha Fevereiro, Ý febbraio, Đức Februar, Wales Chwefror, tiếng Scots Gaelic an Gearran, Ireland Feabbra.

March: Từ chữ Latin Maritius, đặt theo tên của thần Mars, vị thần chiến tranh và cũng là thần nông nghiệp. Tháng này có nhiều lễ hội nhằm để tôn vinh ông ta.

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp mars, Tây-ban-nha marzo, Bồ-đào-nha Março, Ý marzo, Đức März, Wales Mawrth, tiếng Scots Gaelic am Màrt, Ireland Márta.

April:
Chữ Latin là Aprilis, và người ta cho rằng nó xuất phát từ chữ Apru, là tiếng Etruscan (một chủng người cổ đại sống tại vùng đất là nước Ý ngày nay), đuợc mượn từ Aphro, dạng viết tắt của Aphrodite, nữ thần Hi-lạp. Do vậy, theo dân La-mã, thì Aprilisđuợc xem như là “tháng của nữ thần Venus” Ngoài ra nó còn có một ngữ nguyên khác liên hệ với chữ aperir (nghĩa là “to open”) theo như việc các nụ và bông hoa nở ra vào thời điểm này trong năm tại thành Rome.

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp avril, Tây-ban-nha abril, Bồ-đào-nha Abril, Ý aprile, Đức April, Wales Ebrill, Scots Gaelic an Giblean, Ireland Alibreán.

May:
Từ chữ Latin Maius, đặt theo tên Maia, nữ thần sinh trưởng của La-mã, vợ của thần lửa Vulcan (tên Maia này có thể cùng một nguồn với chữ Latin magnus, nghĩa là “large”).

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp mai, Tây-ban-nha mayo, Bồ-đào-nha Maio, Ý maggio, Đức Mai, Wales Mai, Scots Gaelic an Cètiean, Ireland Bealtaine.

June:
tên Latin Iunius của tháng này được bắt nguồn từ tên vị nữ thần Juno của La-mã. Tên của tháng này theo tiếng Scots Gaelic có nghĩa là “tháng non trẻ” (the young month), nhưng một cái tên khác được ghi nhận là Meadhan-Samhraidh “midsummer” (giữa hè); tên tháng này trong tiếng xứ Wales cũng mang nghĩa tương tự, và tên tháng trong tiếng Ireland thì có nghĩa là “ở giữa” (middle)

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp juin, Tây-ban-nha junio, Bồ-đào-nha Junho, Ý giugno, Đức Juni, Wales Mehefin, Scots Gaelic an t-Òg-mhìos, Ireland Meitheamh.

July:
Cho đến năm 44 trước Công nguyên thì tháng này được gọi là Quintilis (bắt nguồn từ quintus, nghĩa là “thứ năm - fifth”); sau đó được đổi tên lại để tôn vinh Julius Caesar, người được sinh ra vào ngày 12. Tên tháng này trong tiếng Scots Gaelic ban đầu ý chỉ thòi điểm ấm áp nhất của năm.

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp juillet, Tây-ban-nha julio, Bồ-đào-nha Julho, Ý luglio, Đức Juni, Wales Gorffennaf, Scots Gaelic an t-Iucbar, Ireland Iúil.

August
: Cho đến năm 8 trước Công nguyên thì tháng này có tên là Sextilis (từ chữ sextus, “sixth”); sau đó đổi tên lại theo tên của hoàng đế Augustus. Trong tiếng Scots Gaelic và Ireland, tên tháng này dùng để tưởng nhớ các hoạt động thu hoạch vụ mùa tưởng nhớ đến Lugh, vị thần ánh sáng của người Celtic cổ đại (tương đương với thần Mercury bên La-mã và thần Hermes bên Hi-lạp).

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp août, Tây-ban-nha agosto, Bồ-đào-nha Agosto, Ý agosto, Đức August, Wales Awst, Scots Gaelic an Lùnasdal, Ireland Lughnasadh.

September:
Tên Latin của tháng này September chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ bảy trong năm (xuất phát từ chữ septem, “số bảy”). Tên trong tiếng Wales là một từ với nghĩa “mùa gặt”; trong tiếng Scots Gaelic thì mang ý nghĩa sự dư dả và hân hoan trong mùa thu hoạch; còn trong tiếng Ireland nghĩa là “giữa thu” (mid-autumn).

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp septembre, Tây-ban-nha septembre, Bồ-đào-nha Setembro, Ý settembre, Đức September, Wales Medi, Scots Gaelic an t-Sultuine, Ireland Meán Fómhair.

October:
Tên Latin của tháng này October chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ tám trong năm (xuất phát từ chữ octo, “số tám”). Tên tháng trong tiếng Wales, ban đầu là hyddfref, nghĩa là tiếng bò rống; trong tiếng Scots Gaelic thì nghĩa là “thời kì động đực” (rutting time), bắt nguồn từ chữ damh, nghĩa là “con bò”; trong tiếng Ireland thì có nghĩa là “cuối thu” (end of autumn).

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp octobre, Tây-ban-nha octubre, Bồ-đào-nha Outubro, Ý ottobre, Đức Oktober, Wales Hydref, Scots Gaelic an Damhar, Ireland Deireadh Fómhair.

November:
Tên Latin của tháng này November chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ chín trong năm (xuất phát từ chữ novem, “số chín”). Trong tiếng Wales thì tên tháng này mang nghĩa là “sát sinh” (slaughter); tương tự vậy, người Hà-lan dùng nghĩa đó để gọi tháng này slachtmaand, bởi vì người ta giết thú vật trong tháng này, và trong Old English còn bảo lưu một từ biến thể của người ngoại đạo blomonap, nghĩa là “tháng hiến tế” (sacrifice month). Một từ khác trong tiếng Wales là y mis du, “tháng tối tăm” (black month), từ này được ghi nhận trong tiếng Scots Gaelic (am mìos dubh).

Ngày đầu tiên của tháng này là một sự kết thúc cho vụ mùa, là cái ngày mà các bầy thú trở về từ các đồng cỏ và sự chiếm hữu đất đai được gia hạn. Nó cũng là thời điểm mà người ta tin rằng linh hồn của những người đã khuất sẽ trở về thăm viếng gia đình. Người ta đốt lửa mừng trên đỉnh đồi để thắp lên lại ngọn lửa ấm áp gia đình cho mùa đông và để xua đuổi những linh hồn xấu xa, và thỉnh thoảng họ mang mặt nạ và hoá trang để những hồn ma không thể nhận ra họ. Đó chính là lễ hội Samhain của người Celts, và cũng là nguồn gốc của lễ Halloween hiện nay, vốn được tổ chức vào đêm 31/10. [1]

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp novembre, Tây-ban-nha noviembre, Bồ-đào-nha Novembro, Ý novembre, Đức November, Wales Tachwedd, Scots Gaelic an t-Samhainn, Ireland Samhain.

December:
Tên Latin của tháng này December chỉ ra rằng ban đầu thì tháng này là tháng thứ mười trong năm (xuất phát từ chữ decem, “số mười”). Tên tháng trong tiếng Wales nghĩa là “trước ngày ngắn nhất” (before the shortest day), theo tiếng Scots Gaelic nghĩa là “bóng đêm” (darkness), theo tiếng Ireland nghĩa là “tháng của Giáng-sinh” (Christmas month).

Tên gọi của tháng theo các ngôn ngữ khác: Pháp décembre, Tây-ban-nha diciembre, Bồ-đào-nha Dezembro, Ý dicembre, Đức Dezember, Wales Rhagfyr, Scots Gaelic an Dùdlachd, Ireland Mí na Nollag.

Năm là đơn vị chỉ thời gian, và hơn nữa nó còn mang tính biểu tượng. Năm là một kiểu hình cho mọi quá trình có chu kì (như một đời người, sự trỗi dậy và suy tàn của nền văn hoá, chu kì vũ trụ). Biểu tượng hình tròn của năm thường được nằm gói gọn trong một hình vuông với bốn góc là bốn nhân vật tượng trưng cho bốn mùa trong năm. Tấm thảm thêu về Sự sáng tạo trong nhà thờ Gerona là một ví dụ hoàn hảo cho hình ảnh đó. Trong truyền thống Trung-hoa thì vòng tròn biểu tượng của năm được chia thành hai phần bằng nhau, tương ứng với bóng tối/cái chết và ánh sáng/sự sống. Từ thời xa xưa thì người ta tin rằng mỗi người đều phải trải qua một quá trình tái sinh hàng năm, từ tháng Mười hai cho đến tháng Sáu, biểu tượng cho cái chết và sự phục sinh. [2]





Tấm thảm thêu về Sự sáng tạo (tapestry of Creation) của nhà thờ Gerona.


Các ngày trong tuần

Mẫu hình của tuần lễ có liên quan đến mẫu hình của bảy hướng không gian: với hai ngày liên hệ với một chiều không số ba chiều không gian, trong khi phần trung tâm, là hình ảnh của khái niệm “tĩnh động thể” (unmoved mover) của Aristotle, thì tương ứng với ngày nghỉ trong số bảy ngày. [3]

Một tuần bảy ngày là đơn vị thời gian được người ta tạo ra không căn cứ trên khía cạnh thiên văn. Nguồn gốc của đơn vị tuần lễ này được liên hệ với người Do-thái cổ đại và ghi chép kinh thánh về Sự sáng tạo, theo đó thì Chúa làm việc trong sáu ngày và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Tuần lễ của người Do-thái xoay quanh ngày Sabbath, là ngày thần thánh và là ngày nghỉ của người Do-thái, bắt đầu từ buổi hoàng hôn Thứ sáu cho đến buổi đêm về vào ngày kế tiếp (tức là ngày Thứ bảy). Tuy nhiên giới nghiên cứu đã chứng minh được rằng người Do-thái có lẽ đã mượn ý tưởng về tuần lễ này từ những người ở vùng Lưỡng-hà, vì người Sumer và người Babylon chia một năm thành những tuần bảy ngày. Và từ người Babylon đến người Ai-cập, rồi người La-mã đặt tên mỗi ngày trong tuần theo tên của những hành tinh theo một chuỗi bảy hành tinh quan sát được bằng mắt thường: Mặt trăng (Moon), sao Thuỷ (Mercury), sao Kim (Venus), Mặt trời (Sun), sao Hoả (Mars), sao Mộc (Jupiter), và sao Thổ (Saturn).




Bảng 1 – Tên các ngày trong tuần
(hình lấy từ cuốn The History of Time: A Very Short Introduction)

Trong các ngôn ngữ trên, thì tên các ngày trong tuần theo tiếng của xứ Wales khá giống tiếng Latin hơn cả, vì tiếng Wales là ngôn ngữ còn sót lại của thời Roman Britain (nước Anh của La-mã), do vậy còn giữ được tên của các hành tinh sát với gốc Latin còn hơn cả những ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Romance (ngữ hệ bắt nguồn từ Latin) như Pháp, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, v.v.

Theo tiếng Latin thì ngày đầu tiên được đặt theo tên ngày Mặt trời (Sun) (dies Solis), ngày thứ nhì là cho ngày Mặt trăng (Moon) (dis Lunae), ngày thứ ba là ngày sao Hoả (Mars) (dies Martis), ngày thứ tư là ngày sao Thuỷ (Mercury) (Mercurii), ngày thứ năm là ngày sao Mộc (Jupiter) (dies Iovis), ngày thứ sáu là ngày sao Kim (Venus) (dies Veneris), và ngày thứ bảy là ngày sao Thổ (Saturn) (dies Saturni). Tên các hành tinh ở thời La-mã là bản phiên dịch từ tiếng Hi-lạp, và Hi-lạp là từ tiếng Babylon, Babylon thì từ Sumer:



Bảng 2 – Tên các hành tinh [4]


Có một điều thú vị trong tên các ngày bằng tiếng Latin là bảy hành tinh được xếp theo chuỗi tăng dần bắt đầu từ ngày Monday và tăng tiến lên theo từng khoảng hai ngày trong vòng hai tuần: Monday (Moon), Wednesday (Mercury), Friday (Venus), Sunday (Sun), Tuesday (Mars), Thursday (Jupiter), Saturday (Saturn). Để hiểu nguyên do vì sao thì ta quay ngược thời gian trở về Ai-cập thời Plotemy, lúc này các nhà chiêm tinh định ra rằng mỗi giờ sẽ ứng với một hành tinh theo thứ tự giảm dần về mặt khoảng cách đối với Trái đất, lần lượt là Saturn, Jupiter, Mars, Sun, Venus, Mercury, Moon, và mỗi ngày thì ứng với hành tinh đại diện cho giờ đầu tiên của ngày đó; bởi vì một ngày bao gồm 3x7+3 giờ, bắt đầu là Saturn, nên ngày đầu tuần vào thời đó được tính là ngày Saturday, do đó sang ngày hôm sau thì giờ đầu tiên rơi vào Sun, thành Sunday, ngày hôm sau nữa rơi vào Moon, thành Monday, v.v..

Mặc dù sau này, Thiên chúa giáo lấy khái niệm tuần lễ của người Do-thái và đổi ngày Sunday lại thành “ngày của Chúa” (Lord’s day – dies Dominicus), nhưng vào vị hoàng đế đầu tiên của đế chế La-mã Công giáo, Constantine, vào năm 321 đã ban sắc lệnh rằng vào ngày Sunday thì không kiện tụng gì cả, ông ta không gọi ngày đó là “ngày của Chúa” mà gọi là “ngày mà mặt trời được tôn thờ” (diem solis ueneratione sui celebrem).

Trong số các ngôn ngữ của Tây Âu, thì ngoại trừ tiếng Bồ-đào-nha tiếp thu hoàn toàn cách đặt tên của Thiên chúa giáo. Còn lại các ngôn ngữ khác thuộc ngữ hệ Romance chỉ giữ lại cách đặt tên của “ngày của Chúa” (Pháp, dimanche / Tây-ban-nha, domingo / Ý, domenica) và ngày “Sabbath” (samedi / sábado / sabato), những ngày còn lại trong tuần vẫn giữ cách đặt tên theo các hành tinh.

Trong các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Germanic (tiếng Đức cổ), thì có một số thay đổi so với tiếng Latin. Như tiếng Anh, các ngày Sunday, Monday, Saturday vẫn được đặt theo tên các hành tinh, còn những ngày khác thì đặt theo tên các vị thần của dân tộc Germanic cổ:

· Tuesday được đặt tên theo thần Týr (Old English viết là Tiw hay Tiu), vị thần chiến tranh và bầu trời (tương ứng với thần Mars bên La-mã), ngày này trong tiếng Thuỵ-điển hay Đan-mạch lần lượt là tisdagtirsdag, còn tiếng Đức là Dienstag.
· Wednesday đặt theo tên của thần Woden (còn có một tên thông dụng khác là Odin), tương ứng với thần Mercury bên La-mã, và cách đặt tên này qua bên tiếng Hà-lan là woensdag, tiếng Thuỵ-điển và Đan-mạch onsdag. Tuy nhiên trong tiếng Đức thì có sự thay đổi nữa, là ngày này người Đức gọi là Mittwoch (tức là midweek, giữa tuần)
· Thursday đặt tên theo thần Thor, thần sấm sét, cũng từ tên vị thần này mà có từ tiếng Anh thunder.
· Friday đặt theo tên thần Frigg, trong thần thoại Scandinavia thì Frigg là vợ của Odin và là nữ thần của hôn nhân và sự sinh sản, tương ứng với thần Venus bên La-mã.

Người Slav (những dân tộc thuộc khu vực trung và đông của châu Âu) thì áp dụng một hệ thống đặt tên khác. Ngày Sunday được họ gọi là nedelja, ngày “không-làm-việc” (not-work). Tuy nhiên từ đó lại có nghĩa là “week” trong tiếng Nga, và người Nga thì gọi ngày Sunday là voskresene, “sự phục sinh” (một dạng từ khác của từ Voskresenie, nghĩa là “ngày Phục sinh” (Easter)), ngày Monday được gọi là ponedel’nik, nghĩa là “ngày sau nedelja”. Ngày Saturday trở thành “Sabbath”, ngày Wednesday mang nghĩa là “giữa tuần”, còn những ngày Tuesday, Thursday, và Friday thì mang tên bắt nguồn lần lượt từ nghĩa “hai”, “bốn”, và “năm”, vì họ đếm bắt đầu từ ngày Monday chứ không phải từ ngày Sunday. Người Lithuania và Latvia cũng bắt đầu đếm các ngày trong tuần từ ngày Monday.

Còn trong tiếng Việt, thì các ngày trong tuần từ Monday đến Saturday được gọi lần lượt là Thứ hai, Thứ ba, cho đến Thứ bảy, còn ngày Sunday có hai cách gọi “chúa nhật” hoặc “chủ nhật”, tức “Lord’s day”. Nếu ta so với bảng 1, thì thấy cách gọi này về mặt ý nghĩa giống hệt như cách gọi trong tiếng Latin của nhà thờ Thiên chúa giáo (Church Latin), và trong ngôn ngữ hiện đại ngày nay thì giống với cách gọi của tiếng Bồ-đào-nha: từ feria ở đây theo tiếng Latin ban đầu có nghĩa là “free days” (những ngày rảnh rỗi), nhưng sau đó chuyển thành nghĩa “feast days” (những ngày lễ hội), và rồi vì một lí do nào đó mà từ feria này được dùng để chỉ các ngày trong tuần. Nhắc lại lịch sử thì vào đầu thế kỉ 17, các nhà truyền giáo Bồ-đào-nha sang Việt-nam, và những người này đã có vai trò cực kì quan trọng trong việc hình thành chữ Quốc ngữ hiện nay, do đó việc tên gọi các ngày trong tuần có ý nghĩa trùng khớp với bên tiếng Bồ-đào-nha là điều hoàn toàn hợp lí và có cơ sở về mặt lịch sử.

Các ngày trong tuần có liên hệ với các hành tinh, và các hành tinh thì lại có liên hệ với các kim loại trong thuật luyện đan (alchemy). Hình dưới đây sẽ tóm gọn lại những sự liên hệ đó:



Tên các hành tinh có chữ màu xanh, phía dưới là tên kim loại tương ứng, dưới nữa là tên của ngày trong tuần bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, lần lượt là: tiếng Latin cổ, Wales, Pháp, Tây-ban-nha, Ý, Anh, Đức (nếu ngày đó được thể hiện bằng tám ngôn ngữ thì tiếng thứ nhì, sau tiếng Latin cổ, là tiếng Latin của Thiên chúa giáo).



Sài-gòn,
20110105.


Chú thích:


[1] “Halloween.” Encyclopædia Britannica. Encyclopaedia Britannica Ultimate Reference Suite. Chicago: Encyclopædia Britannica, 2010.
[2] Cirlot, J. E. “Year.” A Dictionary of Symbols. 2nd ed. London: Routledge, 1971.
[3] Cirlot, J. E. “Week.” A Dictionary of Symbols. 2nd ed. London: Routledge, 1971.
[4] Coi thêm tên các hành tinh theo nhiều ngôn ngữ khác nhau: Planetary Linguistics

Tài liệu tham khảo:


  • Encyclopædia Britannica. Encyclopaedia Britannica Ultimate Reference Suite. Chicago: Encyclopædia Britannica, 2010.
  • Ayto, John. Word Origins. 2nd edition. London: A & C Black, 2005.
  • Blackburn, Bonnie & Leofranc Holford-Strevens. The Oxford Companion to the Year. New York: Oxford University Press, 1999.
  • Cirlot, J. E. A Dictionary of Symbols. 2nd ed. London: Routledge, 1971.
  • Holford-Strevens, Leofranc. The History of Time: A Very Short Introduction. New York: Oxford University Press, 2005.
  • Pringle, Greg. “Days of the Week in Chinese, Japanese, & Vietnamese.” Bathrobe’s cjvlang
  • Ross, Kelly L. “The Days of the Week.” The Proceedings of Friesian School, the Fourth Series. 2005.